mở đầu trong cuốn sách “Các phương pháp nghiên cứu xã hội học” (Sociological Research Methods) do Martin Bulmer chủ biên, Nhà xuất bản Macmillan ở London tái bản năm 1991, trang 1-8. Trong đoạn này, các tác giả làm rõ trục quan hệ cơ bản trong nghiên cứu khoa học, đó là quan hệ giữa lý thuyết và thực nghiệm. ĐỐI TƯỢNG XÃ HỘI HỌC Các tác giả cuốn sách nhắc đến ba định nghĩa khác nhau về đối tượng của xã hội học. Trước hết, đó là E.
Durkheim với quan niệm nhìn các sự kiện xã hội như là những sự vật (khách quan, không thể quy về cá nhân). Định nghĩa thứ hai của M. Weber, khi ông cho rằng xã hội học là một khoa học nhằm tìm hiểu theo cách diễn giải về hành động xã hội, bằng cách đó đạt đến một sự giải thích nhân quả đối với quá trình và tác động của hành động ấy. Cuối cùng là cố gắng tổng hợp của P.
Luckmann đối với cả hai quan điểm trên. Theo họ, xã hội có tính sự kiện khách quan, đồng thời xã hội được tạo dựng nên bằng hoạt động biểu lộ ý nghĩa chủ quan. Đó chính là cái đặc tính đôi (dual) của xã hội theo nghĩa tính sự kiện khách quan và ý nghĩa chủ quan, nó tạo nên hiện thực xã hội ngay từ khởi nguồn. DỮ LIỆU THỰC NGHIỆM VÀ LÝ LUẬN, MÔ TẢ XÃ HỘI VÀ XÃ HỘI HỌC "Cái gì tạo nên tri thức xã hội học?" là một câu hỏi cơ bản mang tính triết học và nhận thức luận của xã hội học.
Đây cũng là vấn đề trung tâm trong công trình kinh điển của E. Durkheim xuất bản năm 1895 "Những quy tắc phương pháp xã hội học". Trả lời câu hỏi này dẫn đến những hàm ý đối với địa vị của xã hội học với tính cách là bộ môn khoa học hay nhân văn, đối với hoạt động của bản thân xã hội học, và đối với sức giải thích (và tức là hiệu lực đối với thế giới thực tế) của các giả thuyết xã hội học. Công trình trên là một lý luận về logic của nghiên cứu xã hội, là một điểm mốc trong lịch sử phương pháp luận xã hội học.
Trong cuốn sách này, Durkheim tuyên bố rằng xã hội học phải gắn khảo cứu thực nghiệm với mối quan tâm lý luận, giải thích và kiểm nghiệm các giả định lý thuyết bằng cách đối chiếu với dữ liệu thực nghiệm. Ông đã cung cấp một mô hình (kiểu mẫu) cho bộ môn xã hội học, điều vẫn còn rất thích hợp hôm nay. Tầm quan trọng của công trình trước hết là ở chỗ nó hướng dẫn cho xã hội học thực nghiệm, nhấn mạnh vào cả hai yếu tố lý thuyết và thực nghiệm cũng như mối quan hệ qua lại tất yếu giữa hai yếu tố đó. Durkheim phân ranh giới rõ ràng giữa mô tả thực nghiệm (sociography, có thể dịch là xã hội ký hay mô tả xã hội) với lý luận-thực nghiệm (sociology).
Nghiên cứu xã hội thực nghiệm có lịch sử lâu đời hơn xã hội học. Từng có một phong trào rộng lớn thu thập các sự kiện xã hội, điều tra thống kê của Chính phủ và tư nhân, khảo sát định lượng (survey). Những người Anh như William Farr, Sidney và Beatrice Webb, Charles Booth và Seebohm Rowntree, là những người đi tiên phong trong các khảo cứu xã hội và đã ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành xã hội học Anh. Nhưng những khảo cứu như vậy trước hết mang tính mô tả xã hội (sociography) hơn là xã hội học, chúng thu thập dữ kiện xã hội để làm căn cứ cho việc lập chính sách hoặc tranh cãi chính trị.
Xã hội học xuất hiện sau này có cao vọng hơn: không đơn giản chỉ thu thập và phân tích dữ liệu một 18 cách tỉ mẩn chi li, mà quan tâm đến những vấn đề lý luận, giải thích các hiện tượng xã hội bằng công tác lý luận. Không thể xem nhẹ giá trị của nghiên cứu mô tả, là việc thiết lập nên "các sự kiện" (facts) của một tình huống cụ thể. Nhưng tầm quan trọng của chúng đối với nhà xã hội học không nằm ở trong bản thân dữ liệu, bởi vì thế giới là một biển cả mênh mông dữ liệu mà người ta sẽ lặn ngụp vô mục đích hoặc chết chìm trong đó nếu không có tiêu chí cho việc lựa chọn và tổ chức dữ liệu. Các vấn đề và lý thuyết do xã hội học cung cấp chính là những tiêu chí đó.
Nghiên cứu mô tả đã và đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành chính sách xã hội. Tuy nhiên, nhà xã hội học thực nghiệm không chỉ thu thập "các sự kiện" về đời sống xã hội, mặc dù điều này là quan trọng. Trong khi nắm bắt tính tổng thể của tương tác và quá trình xã hội, nhà xã hội học tìm cách hiểu và giải thích các hiện tượng xã hội (chứ không chỉ mô tả chúng), và lý giải thế giới, bằng một khung quy chiếu nào đó. Nhiều người nghiên cứu tự nhận là nhà xã hội học đã sai lầm khi hiểu (một cách tự giác hay vô thức) nghiên cứu xã hội là thu thập dữ kiện xã hội.
Đây chính là sự lẫn lộn giữa sociography (xã hội ký, mô tả xã hội) với xã hội học. Có thể nói sự phân biệt giữa sociography và sociology ở đây rất bổ ích cho các nhà xã hội học Việt Nam. "Một nghiên cứu xã hội học mà càng giống với một sự tập hợp các dữ kiện, bất kể nó phức thể, hoàn chỉnh và chính xác như thế nào, thì nó càng có ít ý nghĩa khoa học" (Bierstedt). Một điểm thứ hai có liên quan là tính phức thể lý luận của tri thức về xã hội.
Xã hội học quan tâm đến việc tìm hiểu bản chất của "hành động xã hội”, "quan hệ xã hội” và "cấu trúc xã hội”, và trong khi làm như vậy nó giải thích những vấn đề cụ thể bằng những thuật ngữ lý luận thích hợp. Thế nhưng thao tác hóa những kiến trúc lý luận đó trong tiến trình thực nghiệm là một việc cực kỳ phức tạp, rất khó thiết lập được mối quan hệ giữa dữ liệu với giả thuyết lý luận. Giống như chuyện con gà và quả trứng, dữ liệu và việc lý giải dữ liệu gắn kết với nhau không thể tách rời. Tưởng tượng về cái này mà không có cái kia là đã tước bỏ cái cốt lõi lý luận của xã hội học.
Khó khăn nữa là ở việc giải thích các hiện tượng xã hội. Những người biện hộ cho tính ưu tiên của việc thu thập dữ kiện nói rằng khoa học xã hội “tiến bộ thông qua việc thu thập các dữ kiện cho việc khái quát hóa, điều này đến lượt nó lại dẫn đến những khái quát hóa cao hơn… lý luận xã hội đơn giản là việc sắp xếp các khái niệm được sử dụng để mô tả các dữ kiện xã hội, khi được kết hợp với nhau theo những cách thức nào đó, sẽ cung cấp những cách giải thích nhân quả hoặc ít nhất thì cũng là những tương quan có ý nghĩa". Theo Bulmer, điều này hoàn toàn không thoả đáng. Kinh tế học phần nào là một ngoại lệ, còn các khoa học xã hội khác đã không đạt được sự đột phá đáng kể như khoa học tự nhiên trong việc xây dựng những định luật chung nhờ đó có thể dự báo thành công đường hướng phát triển xã hội ngay cả trong phạm vi nhỏ và trong những điều kiện hạn chế.
Giải thích hành vi xã hội là một công việc cực kỳ phức tạp đòi hỏi những thủ tục cẩn thận nhất và sự nhạy cảm lý luận. Mặt khác, Bulmer cũng nhấn mạnh xu hướng ngược lại coi nghiên cứu xã hội là công việc lý luận thuần tuý, nhìn xã hội học chỉ là một chuyên ngành của triết học ứng dụng hơn là một bộ môn thực nghiệm, xu hướng này cũng rất tai hại. Cả lý luận và điều tra thực nghiệm đều cần thiết. Lý luận mà không có sự kiểm nghiệm thực tế do nghiên cứu thực nghiệm cung cấp thì chỉ có ngày càng cằn cỗi, giống với thần học Trung cổ hơn là khoa học xã hội hiện đại.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp luận chung nói đến việc nghiên cứu có hệ thống và logic về những nguyên tắc chung hướng dẫn việc khảo sát xã hội học, liên quan theo một nghĩa rộng nhất đến câu hỏi nhà xã hội học tạo ra tri thức xã hội như thế nào. Điều này gắn với việc xem xét những cơ sở chung của tính hiệu lực (validity) của các giả thuyết khoa học. Với tính cách như vậy, phương pháp luận chung liên quan rõ ràng và trực tiếp với triết học của khoa học xã hội, bản thân nó là đối tượng nghiên cứu của triết học. Chiến lược hay thủ tục nghiên cứu nói đến cách thức mà một nghiên cứu thực nghiệm cụ thể được thiết kế và thực hiện, nói đến những ý tưởng về nhiệm vụ của nghiên cứu xã hội học thể hiện trong tiếp cận được sử dụng, nói đến kiểu thiết kế nghiên cứu và sự kết hợp các kỹ thuật nghiên cứu có thể sử dụng.
Các kỹ thuật nghiên cứu là những thao tác tìm kiếm dữ kiện được sử dụng để tạo ra dữ liệu về thế giới xã hội. Chẳng hạn, sử dụng bảng hỏi và sơ đồ phỏng vấn để thu được những đặc trưng xã hội, niềm tin, thái độ của mọi người, sử dụng thống kê xã hội và tư liệu lịch sử. Thuật ngữ "phương pháp luận" (như trong công trình của M. Weber "Phương pháp luận khoa học xã hội”) được hiểu là liên quan đến những xem xét chung thuộc kiểu thứ nhất (ở đây thêm tính từ "chung" để làm rõ nghĩa).
"Phương pháp nghiên cứu" thường được hiểu là những hoạt động cụ thể và đặc thù hơn của kiểu thứ hai và ba nói trên (chiến lược nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu). LÝ LUẬN VÀ CÁCH TRÌNH BÀY VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC Các tài liệu hiện nay rất là khác nhau về mức độ đặc thù, từ mức chung nhất (như trong công trình "Những quy tắc" của Durkheim) đến mức cụ thể nhất về việc thực hiện các kỹ thuật nghiên cứu như thế nào. Hiện nay, người ta tập trung vào nỗ lực liên kết ba khía cạnh khác nhau nói trên của phương pháp nghiên cứu xã hội học. Lựa chọn chiến lược và kỹ thuật nghiên cứu ít khi độc lập với một quan điểm phương pháp luận chung; ngược lại, việc sử dụng một chiến lược hay kỹ thuật cụ thể có thể có những hàm ý quan trọng đối với những cơ sở chung cho tính hiệu lực của các giả định khoa học.