Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1997-2013) 1. Khái niệm và một số thuật ngữ liên quan đến đề tài Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH - CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH - CN.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội. 13 Phát triển công nghệ (PTCN) là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới.
Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu. Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc NCKH và PTCN; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT), chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ (ATBX), hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu KH - CN trong các lĩnh vực KT - XH. Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH - CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.
Cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người thực hiện hoạt động KH - CN. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề KH - CN cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển KH - CN. 14 Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là việc bên đặt hàng đưa ra yêu cầu về sản phẩm KH - CN, cung cấp kinh phí để tổ chức, cá nhân hoạt động KH - CN tạo ra sản phẩm KH - CN thông qua hợp đồng. Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học và công nghệ là cơ sở vật chất - kỹ thuật của tổ chức KH - CN; hệ thống chuẩn đo lường, phòng thí nghiệm trọng điểm; khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH - CN; hạ tầng thông tin, thống kê KH - CN.
Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển KT - XH, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa [58;tr. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học - công nghệ Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) chỉ rõ: “Phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [41;tr. Với chỉ đạo trên, rõ ràng, KH - CN luôn là một chủ trương quan trọng trong đường lối của Đảng. Thực hiện đường lối của Đảng, hoạt động KH - CN của nước ta đã bước đầu đạt được một số thành tựu khi gắn bó hơn với nhu cầu phát triển KT - XH, thích nghi dần với cơ chế thị trường, đóng góp vào sự tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm tăng 13,3% [130].
Nhưng bên cạnh những kết quả kể trên, nền KH - CN nước ta phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH và còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực. Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã thông qua Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000. 15 Trên cơ sở vạch rõ những yếu kém và nguyên nhân khiến hoạt động KH - CN thời gian qua còn yếu kém, Nghị quyết đã đưa ra định hướng chiến lược phát triển KH - CN đến năm 2020: Một là, tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng và động lực của KH - CN trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Hai là, xác định nội dung định hướng chung của chiến lược KH - CN đến năm 2020 với các nội dung: - Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước.
Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. - Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu KH - CN trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng - an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nước. Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhận từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI. - Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực KH - CN của nước nhà: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân lành nghề, trẻ hóa và phát triển đội ngũ cán bộ KH - CN có đủ đức, tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông tin, từng bước hình thành một nền KH - CN hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trong quá trình CNH, HĐH.
Ba là, xác định rõ nhiệm vụ của các lĩnh vực KH - CN (KHXH&NV; khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; tiềm lực KH - CN). Những mục tiêu và 16 nhiệm vụ trên sẽ được thực hiện trên cơ sở quán triệt 5 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết. Bốn là, đưa ra mục tiêu phát triển KH - CN đến năm 2000 là nâng cao mặt bằng khoa học và dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và phải phát triển một bước tiềm lực KH - CN. Mục tiêu này phù hợp với điều kiện KT - XH của đất nước thời điểm này và phù hợp với những mục tiêu CNH, HĐH mà Đảng đề ra trong Đại hội VIII.
Năm là, để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ trên, Nghị quyết đưa ra những giải pháp chủ yếu như: tạo lập thị trường cho KH - CN; cải thiện chính sách đối với cán bộ KH - CN; phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; đồng thời tăng cường đầu tư cho phát triển KH - CN (đạt không dưới 2% tổng chi ngân sách) từ nhiều nguồn; hợp tác quốc tế về KH - CN; tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm; đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động KH - CN; đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH - CN [39]. Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) ra đời đã định hướng và tạo cơ sở quan trọng cho sự nghiệp của nền KH - CN nước ta, từng bước phát huy vai trò động lực đối với sự phát triển KT - XH. Nghị quyết đã thực sự trở thành tư tưởng chỉ đạo phát triển KH - CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Để Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đi vào thực tiễn, Đảng và Nhà nước tiếp tục có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể để thực hiện Nghị quyết như: Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ; Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định 16/2000/NĐ-CP ngày 10/5/2000 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Quản lý Nhà nước về chuyển giao công nghệ,… Đặc biệt, để nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về KH - CN 17 cũng như để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH - CN, ngày 09/6/2000 Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học và công nghệ.
Sự ra đời của Luật KH - CN không những thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng coi “Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước” [57;tr.