Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản 1. Các tội chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam Quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ quan trọng được pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng chú trọng bảo vệ.
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu. Các tội CĐTS được quy định tại chương XIV từ Điều 133 đến Điều 140 BLHS Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), bao hàm dấu hiệu của tội phạm nói chung đã được ghi nhận ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 và được hiểu một cách khái quát là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật hình sự qui định thực hiện một cách cố ý xâm hại đến quan hệ sở hữu được BLHS qui định. Như vậy cũng như các tội phạm khác, các tội CĐTS có các đặc điểm là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có tính trái pháp luật hình sự, có tính có lỗi và có tính phải chịu hình phạt. Tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan không tách rời nhau bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm.
Do vậy cần phải nhận thức đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cho bốn yếu tố nói trên. Đối với các tội CĐTS, điều đó cũng không phải là ngoại lệ. - Khách thể của các tội CĐTS Khách thể của các tội CĐTS là quan hệ sở hữu. Tuy nhiên bên cạnh quan hệ sở hữu vốn là khách thể bắt buộc (phải có) của tất cả các tội CĐTS, một số tội 8 trong nhóm tội này còn xâm hại quan hệ nhân thân như tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản.
Đối tượng tác động của các tội CĐTS bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ giá trị được bằng tiền và các quyền về tài sản. Tài sản đó có thể là tài sản hợp pháp nhưng cũng có thể là tài sản bất hợp pháp. Có ngoại lệ là có một số đối tượng tuy thỏa mãn khái niệm tài sản nhưng do tính chất đặc biệt nên có thể không phải là đối tượng tác động của các tội CĐTS như ma túy, vũ khí, quân trang, quân dụng. - Mặt khách quan của các tội CĐTS Căn cứ vào tính chất hành vi của tội phạm được qui định từ Điều 133 đến Điều 140 BLHS có thể thấy các tội CĐTS đều phải có hành vi nhằm CĐTS hoặc hành vi CĐTS của người khác.
Một số tội có cấu thành hình thức với dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm chỉ gồm hành vi CĐTS, một số tội được xây dựng dưới hình thức cấu thành tội phạm vật chất với các dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm là hành vi CĐTS, hậu quả của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả gây ra. Các hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội CĐTS đều được thực hiện bằng hành động, hàm chứa mục đích CĐTS, bởi vậy được thực hiện quyết liệt. Hậu quả mà những hành vi CĐTS gây ra, trước hết là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu ở chỗ làm mất hoặc hạn chế các quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc quyền định đoạt đối với chủ sở hữu do tài sản bị chiếm đoạt. Ngoài ra một số tội CĐTS còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của người khác như tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Mặt chủ quan của các tội CĐTS Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của nó bao gồm các dấu hiệu gắn chặt với biểu hiện bên ngoài là mặt khách quan của tội phạm đã phân tích như lỗi, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội. Tất cả các tội CĐTS có lỗi 9 cố ý và hơn thế đều là cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi, người thực hiện hành vi, người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự ngăn cấm, thấy trước hậu quả tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Mục đích CĐTS là dấu hiệu bắt buộc của các tội CĐTS.
Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt một số tội thuộc nhóm tội này với các tội khác cũng có đối tượng tác động là con người như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chẳng hạn. - Chủ thể của các tội CĐTS Theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, chủ thể của các tội CĐTS là thể nhân, con người cụ thể. Cũng theo pháp luật hình sự Việt Nam, chủ thể đó phải đủ độ tuổi luật hình sự quy định để có thể chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009) và phải có năng lực trách nhiệm hình sự (nhận thức qua Điều 13 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009). Theo quy định của BLHS năm 1999 chủ thể của tất cả các tội CĐTS là chủ thể thường đủ những điều kiện đã khái quát như trên.
Tình hình các tội chiếm đoạt tài sản dưới góc độ tội phạm học Tình hình tội phạm nói chung và tình hình các tội CĐTS nói riêng thể hiện đặc điểm định lượng và định tính ở mỗi thời kỳ, mỗi vùng, lãnh thổ hành chính nhất định, tình hình các tội CĐTS được thể hiện cụ thể qua mức độ, cơ cấu, động thái và tính chất của tình hình tội phạm. Như vậy, khi các tội CĐTS như đã phân tích ở trên mà xảy ra trên thực tế ở một địa bàn nhất định như tỉnh Quảng Nam, trong một thời gian nhất định, thì tội phạm học nhìn nhận đó là tình hình các tội CĐTS, tức là một hiện tượng xã hội tiêu cực phản ánh quy luật của sự phạm tội thông qua những bản chất nhất định. Chính vì thế mà tội phạm học khách quan khẳng định quan điểm rằng “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định trong 10 một thời gian nhất định” [45, tr. Và để “công cụ hóa” cho việc nghiên cứu thực tế, khái niệm tình hình tội phạm hiện được xác định là một hiện tượng tâm – sinh lý – xã hội tiêu cực, vừa mang tính lịch sử và lịch sử cụ thể, vừa mang tính pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai cấp, được biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng với các chủ thể đã thực hiện các hành vi đó trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định [10].
Vì tình hình các tội CĐTS chỉ là một trường hợp cụ thể của tình hình tội phạm như vừa nêu, nên cũng có những dấu hiệu, các thuộc tính của tình hình tội phạm. Theo đó, tình hình các tội CĐTS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ 2013-2017 phải được biểu hiện ở tổng thể các tội CĐTS đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017. Khái niệm phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản Hiểu theo nghĩa biện chứng, thì phòng ngừa tội phạm, cũng như phòng ngừa tình hình tội phạm, đều có nội dung giống nhau và đều đã được tội phạm học làm rõ. Tình hình các tội CĐTS vẫn xảy ra hàng năm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam với một mức độ và tính chất nhất định.
Đó là một thực tế không ai bác bỏ và cái thực tế này phải được giải quyết ngay và có thể giải quyết được bằng những biện pháp thích ứng. Trong cái thực tế đó lại chứa đựng những yếu tố tiêu cực mà trong sự tác động qua lại ở những hoàn cảnh, tình huống nhất định đã sinh ra chính thực tế như vậy của tình hình các tội CĐTS, tức là chứa đựng quy luật của sự phạm tội mà tội phạm học gọi là nguyên nhân và điều kiện (của hiện tượng này), cái cần phải được loại trừ bằng một hệ thống các biện pháp khác với những biện pháp đã nêu trên. Chính vì thế, trong nhiều Chỉ thị của Đảng về phòng, chống tội phạm đều đặt ra 2 mục tiêu khác nhau, nhưng lại có quan hệ biện chứng với nhau. Đó là Ngăn chặn và Đẩy lùi tội phạm [34].
Phù hợp với quan điểm của Đảng, cũng là phù hợp với thực tế, phòng ngừa tình hình các tội CĐTS được hiểu là chiến lược hành động của toàn xã 11 hội do Đảng lãnh đạo nhằm giải quyết hai vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau là vấn đề hiện trạng của tình hình tội phạm và vấn đề nguyên nhân, điều kiện của hiện tượng tiêu cực này. Do vậy, phòng ngừa tội phạm có hai phần: Một phần gồm các biện pháp tác động vào nhân (tức nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở giai đoạn tương tác nhập tâm) và một phần tác động vào quả (tức tình hình tội phạm tiềm tàng). Hai phần trên của phòng ngừa tội phạm không thể tạch rời nhau, cùng tạo thành nội dung của chiến lược phòng ngừa tình các tội CĐTS [29]. Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản Khái niệm “ý nghĩa” không thấy được giải thích trong từ điển triết học [37], song trong Từ điển Tiếng Việt 2010 của Viện Ngôn ngữ học có giải thích: “Ý nghĩa là giá trị, tác dụng” [43].
Như vậy, trong Luận văn này, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội CĐTS cũng được đề cập theo chỉ dẫn trên, tức là xem xét giá trị và tác dụng của phòng ngừa trên hai phương diện lý luận và thực tế trong phạm vi của chuyên ngành nghiên cứu, tức là tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.