CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm 1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm là nội dung nghiên cứu quan trọng của tội phạm học hiện đại. Khái niệm phòng ngừa tội phạm đã được dùng thống nhất trong hầu hết các công trình nghiên cứu về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam, từ các giáo trình đại học đến các sách chuyên khào và tham khảo.
Phòng ngừa tội phạm, xét về mặt ngôn ngữ được hiểu là hoạt động nhằm không cho tội phạm xảy ra. Như vậy, phòng ngừa tội phạm không phải là hoạt động hướng tới tội phạm đã xảy ra - tội phạm hiện thực mà là nhằm không cho tội phạm xảy ra. Các giáo trình tội phạm học cùa Trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân năm 2004), của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội năm 1999). Các sách: Tội phạm học luật hình sự và luật tố tụng hình sự của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (Nxb Chính trị quốc gia năm 1994), Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn cùa Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (Nxb Công an nhân dân năm 2000), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của Nguyễn Xuân Yêm (Nxb Công an nhân dân nãm 2001)… Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, năm 1999) thì phòng ngừa là phòng không cho điều bất lợi, tác hại xảy ra thể hiện “Phòng là tìm cách ngăn ngừa, đôi phó với điểu không hav có thế xav ra, gây tác hại cho mình” (tr.
Thực hiện được mục đích này đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tội phạm phải loại trừ dần 9 nguyên nhân của tội phạm qua việc chù động tác động đến các thành tố hợp thành nguyên nhân đó theo hướng giảm thiểu, triệt tiêu các thành tố này hoặc hạn chế tác dụng của nó. Hoạt động này không thể là hoạt động đơn lẻ mà đòi hỏi phải là hoạt động có tính tống họp của Nhà nước, của cả xã hội và của mọi công dân. Như vậy, có thể khái niệm như sau: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có tính chủ động và tông hợp của Nhà nước, của xã hội và của mọi công dân hướng tới việc hạn chế, ngăn ngừa sự hình thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tố này không phát huy được tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xảy ra. Với cách hiểu này, phòng ngừa tội phạm khác với chống tội phạm và cũng khác với kiểm soát tội phạm.
Nhưng chống tội phạm cũng như kiểm soát tội phạm không phải độc lập hoàn toàn với phòng ngừa tội phạm vì chống tội phạm và kiểm soát tội phạm cũng có mục đích phòng ngừa tội phạm và trong phạm vi nhất định, hoạt động cụ thể của chống tội phạm hay kiểm soát tội phạm cũng là hoạt động phòng ngừa tội phạm, vấn đề này được trình bày cụ thể hơn ở phần tiếp theo. Do đó, phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học, nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm, các tác nhân ảnh hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã hội, công tác tổ chức cán bộ…), cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác. Mặc dù vậy, để đưa ra được khái niệm phòng ngừa tội phạm chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực 10 tiễn, phục vụ công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cần phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm của khái niệm này.
Về cơ bản, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản các nhà khoa học - luật gia đều thông qua các nội dung của các đặc điểm cơ bản về khái niệm phòng ngừa tội phạm và tổng hợp lại, chúng tôi có thể chỉ ra như sau: Phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, mà trong đó ngành khoa học về tội phạm học phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm. Dựa trên cơ sở chức năng này, đến lượt mình tội phạm học phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Phòng ngừa tội phạm, suy cho cùng, chính là đưa ra những giải pháp mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học.
Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học. Hơn nữa, suy cho cùng thì mục đích của ngành khoa học về tội phạm học cđể phòng ngừa tội phạm, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. 11 Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm với ý nghĩa là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm trên một địa bàn cụ thể hoặc của một quốc gia, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đất nước từ người lãnh đạo đến nhân dân, từ hệ thống chính trị đến trách nhiệm của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương trong phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới… thì công tác phòng ngừa tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Ngoài ra, về phương châm đấu tranh, các nhà làm luật nước ta đã xác định rõ trong Bộ Luật hình sự năm 2015 là “… đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…” (khác với quy định tương ứng trong Bộ Luật hình sự năm 2005 là “… đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm…”). Trong bối cảnh nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế thì cũng làm xuất hiện những vấn đề tiêu cực trong xã hội, đó là sự thay đổi lối sống với việc đề cao giá trị vật chất và sự hưởng thụ diễn ra ở bộ phận không nhỏ trong xã hội; đạo đức xã hội có nhiều sự biến đổi nhanh chóng; sự di dân cơ học từ các vùng nông thôn về các đô thị trong khi vẫn giữ thói quen, văn hoá của vùng nông thôn; sự ứng xử giữa con người với nhau cũng có những biến động so với trước đây; công tác quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn có những kẽ hỡ, hệ thống pháp luật vẫn đang trong quá trình hoàn thiện; khoảng cách của phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng và tình hình tham nhũng, lãng phí khiến một số người giàu lên nhanh chóng cũng như những tác động từ mặt trái của chính sách thu hút FDI nhằm tăng trưởng GDP ở một số địa phương dẫn đến mâu thuẫn giữa những người bị thu hồi đất với nhà đầu tư, chính quyền gây nên những bức xúc trong xã hội, tạo ra các vụ khiếu kiện đông người rất phức tạp… dẫn đến vi phạm pháp luật, phạm tội. Mục đích, các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm 1. Mục đích phòng ngừa tội phạm Trong cuộc sống hàng ngày, việc phòng ngừa các loại tội phạm luyoon được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quan tâm triển khai liên tục, hàng ngày và thường xuyên.
Những công việc phòng ngừa tội phạm luôn được quy định cụ thể trong các văn bản, đây là điều kiên tiên quyết là cơ sở để đánh giá hiệu quả của công tác phòng ngừa tội phạm. Hơn nữa, hoạt động phòng ngừa tội phạm giúp tiết kiệm các chi phí hơn rất nhiều khi để tình hành tội phạm xảy ra và giảm thiểu rất nhiều những thiệt hại về người về tài sản cho xã hội, Nhà nước và nhân dân. Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng ngừa tội phạm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì trật tự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế thừa và phát triển những tư tưởng văn minh và tiến bộ này. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm…". Còn ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm.
Cụ thể, riêng trong công tác 13 tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”.