Chương I (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, phẩm chất, danh dự của con người). Tháng 12/1999, Quốc hội thông qua BLHS năm 1999 quy định về tội CYGTT tại Điều 104 Chương XII (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người) [28]. Nội dung Điều 104 quy định tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tội CYGTT thực chất là hai tội được ghi trong cùng một điều luật, đó là tội gây thương tích cho người khác và tội gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Gây thương tích cho người khác, nghĩa là hành vi của họ đã gây ra và để lại các dấu vết trên thân thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người (trong thực tế, những trường hợp này Hội đồng Y khoa giám định, kết luận tỷ lệ phần trăm thương tật. Còn gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, nghĩa là làm mất mát, hư hại một phần, không còn nguyên vẹn như trước đối với sức khoẻ con người nữa. Tuy nhiên, do hành vi và hậu quả của chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, cái trước làm tiền đề cho cái sau, cái sau là hệ quả của cái trước. Do vậy mà, hai loại tội này được các nhà làm luật xếp vào một điều luật [27].
Về khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác đã có một số công trình đưa ra. Có tác giả cho rằng: “Tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý dùng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể người khác, gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người bị tác động ở một mức độ nhất định mà pháp luật quy định” [28]. Tác giả khác đưa ra khải niệm:“Tội phạm cố ý gây thương tích là loại tội phạm mang tính bạo lực, người phạm tội cố ý sử dụng sức mạnh thể chất hoặc các thủ đoạn khác tác động trực tiếp lên cơ thể của người bị hại để gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe của người bị hại một cách trái pháp luật, đến mức bị coi là tội phạm” [39]… Nhìn chung ở các khái niệm này đã đưa ra được những đặc điểm chính của loại tội phạm này. Thứ nhất, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải là hành vi của con người: người phạm tội phải có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc.
Hành vi này về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn. Thứ hai, hành vi của người phạm tội được thực hiện do lỗi cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi 7 của mình có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác; mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. So với tội giết người, thì sự cố ý trong trường hợp gây thương tích mức độ nguy hiểm có thấp hơn, vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không mong muốn nạn nhân chết. Nạn nhân chết là ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội [9].
Thứ ba, nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn thương đến sức khoẻ ở mức đáng kể. Nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm. So với Điều 109 BLHS năm 1985, thì Điều 104 BLHS năm 1999 lấy tỷ lệ thương tật của nạn nhân làm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự và định khung hình phạt đối với người phạm tội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS thì người bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khỏe phải có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ để xác định tỉ lệ thương tật là kết luận của Hội đồng giám định y khoa. Căn cứ vào và tài liệu y khoa, thương tích của nạn nhân và Bảng tiêu chuẩn thương tật quy định tại Thông tư liên bộ 28/2013/TTLB/BYT-BLĐTB & XH, ngày 27/9/2013 của Bộ Y tế - Bộ lao động, thương binh và xã hội quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, bệnh tật và bệnh nghề nghiệp để ban hành bản Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định [2]. Điều 104 BLHS năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là BLHS năm 1999) quy định về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, với tội danh “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Tội phạm “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” nằm trong chương XII thuộc nhóm “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” của BLHS.
Như vậy, có thể hiểu: "Tội cố gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội cố ý dùng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể người khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị tác động ở một mức độ nhất định được quy định trong BLHS. Trong đó, thương tích được hiểu là tổn hại cho sức khoẻ thể hiện qua dấu vết để lại trên cơ 8 thể con người, tổn thương khác được hiểu là tổn hại cho sức khoẻ mà không thể hiện thành dấu vết trên cơ thể con người". Dấu hiệu pháp lý của tội cố gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 1. Khách thể của tội phạm Trong khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm được hiểu là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Trong tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác” thì khách thể trực tiếp chính là sức khoẻ của con người. Là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ. Khi nói đến sức khoẻ của con người, nghĩa là chúng ta nói đến một con người đang còn sống (mới sinh ra cho đến trước lúc chết), không phụ thuộc vào tuổi đời, giới tính, bệnh tật hoặc địa vị xã hội của người đó [3]. Từ đó, khẳng định rằng, trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, tội phạm đã xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người được quy định tại Điều 71 của Hiến pháp 2013.
Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, đó chính là các biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được. Các biểu hiện của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các dấu hiệu khách quan khác có ý nghĩa quyết định đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội như: công cụ, phương tiện, phương thức, thủ đoạn, thời gian, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội… Hành vi khách quan gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: được hiểu là hành vi tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương tích hoặc tổn hại sức khỏe. Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của công cụ, phương tiện phạm tội (dùng dao, súng.) hoặc không dùng các công cụ, phương tiện đó mà dùng sự tác động bằng thực thể (đá, đấm.) hay thông qua súc vật hay cơ thể của người khác (cho chó cắn. Cũng có trường hợp người phạm tội bắt người bị hại tự làm tổn hại cho sức khỏe của mình (buộc tự chọc vào mắt mình, chặt ngón tay.
9 Trong mọi trường hợp, giữa hành vi của người phạm tội và hậu quả xảy ra làm tổn thương sức khoẻ của người khác phải có quan hệ nhân quả (vết thương hoặc tổn hại sức khoẻ của người bị hại phải là hậu quả của chính hành vi xâm hại của người phạm tội). Tội phạm hoàn thành từ khi gây ra vết thương hoặc làm tổn hại sức khoẻ của người khác. Cần lưu ý là, hậu quả xảy ra phải ở mức động đáng kể; theo quy định hiện hành thì tỷ lệ thương tật phải từ 11% trở lên hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm Trong khoa học luật hình sự, chủ thể của tội phạm được hiểu là một con người cụ thể, có năng lực TNHS, đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện một tội phạm.
Người có đủ năng lực TNHS phải là người không bị mắc bệnh tâm thần, hoặc bệnh hiểm nghèo làm mất khả năng nhận thức; là người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều chỉnh hành vi của mình - tức là người đó nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, biết được hành vi đó đúng, sai, có phù hợp với pháp luật và đạo đức hay không [45]. Cơ sở pháp lý để xác định chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chính là Điều 12 và Điều 104 BLHS. Theo những quy định trên, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác phải là người có đủ điều kiện sau: Người từ đủ 16 tuổi trở lên (đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 Điều 104 BLHS) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (đối với những hành vi được quy định tại khoản 3, 4 Điều 104 BLHS) và có năng lực trách nhiệm hình sự. Mặt chủ quan của tội phạm Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý.
Người phạm tội ý thức được tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, thấy trước được hậu quả do hành vi mình thực hiện nhất định sẽ gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác hoặc mong muốn, hoặc là để mặc cho hậu quả xảy ra là cho nạn nhân bị thương tích hoặc tổn hại sức khỏe [45].