phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm. Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trên địa bàn thành phố Hà Nội và các yêu cầu, giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 5 ` Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM. Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 1. Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm - Khái niệm hàng cấm: Hàng hóa là sản phẩm do lao động tạo ra và dùng vào mục đích buôn bán trên thị trường.
Tuy nhiên mỗi loại hàng hóa có những đặc tính riêng. Có những loại hàng hóa có tính chất đặc biệt mà việc sản xuất, lưu thông, sử dụng các loại hàng hóa đó trên thị trường gây tác động tiêu cực đến con người, môi trường và xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh quốc phòng, chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa dân tộc, môi trường và sức khỏe của người dân thì Nhà nước quy định không được sản xuất, lưu thông, kinh doanh, sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành , chưa được phép sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Những loại hàng hóa này được liệt kê trong danh mục cấm cá nhân, tổ chức tự do buôn bán và được gọi là “hàng cấm”. + Theo từ điển pháp luật hình sự: Hàng cấm là hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh [73, tr 110].
+ Theo Khoản 6 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại thì, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có nêu: “Hàng cấm là những mặt hàng bị cấm sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam” [17, tr 13]. Danh mục các loại hàng cấm của Việt Nam có sự thay đổi theo thời gian và thường xuyên được điều chỉnh tương thích với các đặc điểm kinh tế - xã hội. Ví dụ, trước đây, một số vật nuôi và cây trồng được phép nhập về Việt 6 ` Nam nhưng hiện nay thì bị cấm. Hoặc trước đây pháo là mặt hàng được phép nhập khẩu nhưng ngày nay lại bị cấm.
- Sản xuất hàng cấm: Được hiểu là hành vi làm ra hàng cấm bằng bất kỳ phương pháp nào, kỹ thuật công nghệ nào. - Buôn bán hàng cấm: Được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản (không phải là tiền) hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền để trao đổi, thanh toán lấy hàng cấm hoặc ngược lại. Trên cơ sơ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm như sau: Tội sả n xuất, buôn bán hàng cấm là hành vi sản xuất, buôn bán những hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc do pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong việc sản xuất, kinh doanh đối với một số mặt hàng đặc biệt. Các dấu hiệu cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Theo quan điểm của TS.
Phạm Mạnh Hùng trong Bình luận khoa học Bộ Luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm do NXB Lao động xuất bản năm 2019 và những nghiên cứu của bản thân, các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được phân tích như sau: *Khách thể của tội phạm: Đối tượng tác động của tội phạm là hàng cấm.Hàng cấm là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam. [17] Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là tội xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong việc sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng đặc biệt. Khách thể trực tiếp cuả tội này là quan hệ xã hội trong lĩnh vực sản xuất, buôn bán 7 ` những hàng hóa Nhà nước độc quyền quản lý. Các mặt hàng này không được nhà nước cho phép san xuất, lưu hành trên thị trường.
Nhưng không phải tất cả đỏ đều thuộc phạm vi đối tượng của tội này. Có những mặt hàng cũng bị Nhà nước cấm sản xuất, lưu hành trên thị trường nhưng đã được quy định trong những điều luật riêng: ma túy, vũ khí quân dụng, … thì không còn là đối tượng của điều luật này nữa. * Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở 2 hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm. Sản xuất hàng cấm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoặt động khác làm ra hàng cấm.
Buôn bán hàng cấm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng cấm vào lưu thông. Hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng cấm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 50 kilôgam trở lên hoặc 50 lít trở lên; - Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu 1.500 bao trở lên; - Sản xuất, buôn bán pháo nổ 06 kilôgam trở lên; - Sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 100.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 50.000 đồng trở lên; Thu lợi bất chính 50.000 trở lên là trường hợp thu được lợi ích vật chất không chính đáng từ việc phạm tội trị giá 50.000 đồng trở lên. 8 ` - Sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 200.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 100.000 đồng trở lên; - Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 190 BLHS nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS mà còn vi phạm. * Dấu hiệu về nhân thân cũng được chú ý trong điều luật: Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi sau đây: sản xuất, buôn bán hàng cấm; buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; sản xuất, buôn bán hàng giả; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gi thực phẩm; sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; đầu cơ; trốn thuế.
Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trên đây mà còn vi phạm, nếu trước đó đã bị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm. - Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 190 BLHS nhưng đã bị kết án về một trong các tội quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 200 của BLHS là đã bị kết án về một trong các 9 ` tội sau đây: tội buôn lậu (Điều 188); tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189); tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190); tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191); tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); tội đầu cơ (Điều 196); tội trốn thuế (Điều 200). Bị coi là đã bị kết án về một trong các tội trên đây, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội đã bị Tòa án kết án về một trong các tội trên, nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của BLHS mà lại thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm.
Cần lưu ý, hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh nhưng hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa đó thỏa mãn dấu hiệu của một trong các tội được quy định tại một trong các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 BLHS, thì người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu TNHS về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà bị truy cứu TNHS về một trong các tội tương ứng được quy định tại các điều luật cụ thể đó của BLHS.