Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm thực hành quyền công tố Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Thực hành quyền công tố" khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138) và mới nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 107).
Hiện chưa có tài liệu, văn bản chính thức nào ghi nhận rõ ràng, cụ thể khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và THQCT. Đó cũng chính là lý do dẫn đến sự thiếu thống nhất về nhận thức trong hoạt động THQCT. Do vậy phải làm rõ thế nào là “quyền công tố” thì mới làm rõ được thế nào là THQCT. Công tố là t từ ghép Hán - Việt được hình thành từ hai từ “công” và “tố”.
Theo từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1994 tại các trang 200, 204, 973 thì: "tố" có nghĩa là "nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác", còn "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước chung cho mọi người, khác với tư"; "Công tố" là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án". Như vậy "công tố" theo từ điển Tiếng Việt là một khái niệm bao gồm: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp, phát biểu ý kiến trước tòa án. Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì quyền công tố là: Quyền 8 của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra) dùng để điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật. Trong tiếng Anh, công tố (prosecute) có nghĩa là thẩm quyền về mặt nhà nước đại diện cho quyền lực công thực hiện một số quyền năng pháp lý để bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể và công dân.
Như vậy, công tố là một trong những hình thức cáo buộc của nhà nước đối với người hoặc pháp nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Trong công tố, nhà nước là bên thực hiện sự cáo buộc và bên bị cáo buộc không chỉ là con người mà còn có thể là pháp nhân và cáo buộc của nhà nước được thể hiện trong nhiều lĩnh vực mà hành vi vi phạm được thực hiện đã xâm phạm tới. Công tố, vì vậy, theo tác giả cần được hiểu là sự cáo buộc của nhà nước đối với người hoặc pháp nhân đã có hành vi vi phạm pháp luật trước tòa án. Việc xác định quyền công tố và theo đó là THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng.
Quyền công tố là quyền của nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra cơ quan xét xử. Khái niệm công tố hoàn toàn đối lập với khái niệm tư tố (tự mình nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để cáo giác, khởi kiện ra tòa). Sự ra đời của chế định tư tố trong pháp luật xuất phát từ quan niệm cho rằng, việc bảo vệ lợi ích cá nhân bị người khác xâm phạm là việc riêng tư của mỗi người, nhà nước không cần thiết và không có trách nhiệm phải can thiệp. Hiện nay, phạm vi và chủ thể thực hiện quyền công tố vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nổi bật là các quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự đều là THQCT.
Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện các chức năng do BLTTHS quy định để kiểm sát việc điều tra tội phạm, để 9 truy tố, buộc tội người phạm tội trước tòa án nhằm đạt được mục đích xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, góp phần bảo đảm quyền tự do dân chủ của con người, bảo vệ các lợi ích của xã hội, của nhà nước. Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền chỉ tồn tại duy nhất trong tố tụng hình sự. Từ đó, họ đưa ra khái niệm về quyền công tố là: Quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; quyền này được giao cho VKS. VKS có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội.
Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước tòa án và bảo vệ buộc tội đó trước phiên tòa. Quan điểm thứ ba và cũng là quan điểm phổ biến được đưa vào giáo trình giảng dạy trong ngành kiểm sát nhân dân. Quan điểm này cho rằng: Quyền công tố được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự. Sau đó, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác.
Theo họ, quyền công tố là "Quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật", phạm vi THQCT được tiến hành trong khi thực hiện các công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, lao động, hành chính, kiểm sát thi hành án dân sự, kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, kiểm sát thi hành án hình sự và công tác điều tra tội phạm. Quan điểm thứ tư cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS mà trực tiếp là KSV thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Nội dung của quyền công tố là đưa ra lời buộc tội những chủ thể phạm tội và chứng minh tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng tại phiên tòa sơ thẩm. Quan điểm này coi quyền công tố chỉ là sự buộc tội tại phiên tòa, việc thực hiện quyền đó là thuộc VKS.
Đó là sự nhầm lẫn giữa 10 quyền công tố và THQCT. Trên thực tế hoạt động truy tố và duy trì quyền công tố của KSV trước tòa chỉ là một phần THQCT theo đúng nghĩa của nó, còn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp trong quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Khi thực hiện chức năng này ngoài quyền kiến nghị, kháng nghị và quyền yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm pháp luật, VKS không có quyền tự quyết định như khi THQCT. Do chưa xác định đúng đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật dẫn đến có quan điểm thu hẹp hoặc mở rộng phạm vi của quyền công tố, hoặc nhầm lẫn giữa quyền công tố với hoạt động thực hiện quyền công tố.
Có thể nói nơi nào mà pháp luật cho phép VKS nhân danh lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội đưa vụ án ra tòa để quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm, nên quá trình này bắt đầu từ việc khởi tố vụ án hoặc khởi kiện và chấm dứt khi có phán quyết có hiệu lực pháp luật của cơ quan xét xử hoặc khi có căn cứ triệt tiêu quyền công tố ở giai đoạn sớm hơn. Quyền công tố không chỉ trong lĩnh vực Tố tụng hình sự mà mở rộng trong cả các lĩnh vực khác như dân sự, kinh tế, hành chính, lao động. Tóm lại, nghiên cứu các quan điểm trên có thể đưa ra nhận xét: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS nhân dân để đưa vụ án ra xét xử trước tòa án nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, tổ chức và của công dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Để xác định đúng đắn phạm vi quyền công tố trong Tố tụng hình sự cần phải nhận thức sâu sắc rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Không thể đồng nhất quyền công tố với việc THQCT, bởi quyền công tố là quyền của Nhà nước để yêu cầu trừng phạt người phạm tội, còn THQCT là việc sử dụng các biện pháp do 11 luật định để đạt được mục tiêu trừng phạt đó. Như vậy, phạm vi quyền công tố trong Tố tụng hình sự bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Vậy quan niệm về quyền công tố thế nào cho chính xác. Theo tác giả, bản chất của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là việc kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi và quyết định của các chủ thể bị kiểm sát.
Do đó, đối tượng của hoạt động kiểm sát trong tố tụng hình sự phải là hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Quyền công tố là quyền buộc tội, còn tiến hành như thế nào là do luật định nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là THQCT. Xuất phát từ bản chất của quyền công tố và đối tượng tác động của quyền công tố như đã nêu trên, tác giả quan niệm rằng: Nội dung quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm. Điều 20 BLTTHS quy định: VKS THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội; phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
THQCT được xác định là chức năng của VKS trong các giai đoạn tố tụng. Điều đó được khẳng định trong BLTTHS và Luật Tổ chức VKSND về công tác thực hiện chức năng của VKS trong tố tụng hình sự.