Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong luật hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tất Viễn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đào Trí Úc, bảo vệ năm 1996 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự, Mã số: 5.14).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước và cải cách kinh tế, Nhà nước Việt Nam từng bước đổi mới hệ thống chính trị với nhiệm vụ trung tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền. Trong cơ chế phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các cơ quan tư pháp giữ vai trò nòng cốt nhằm bảo đảm ổn định chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và các quyền tự do dân chủ của công dân. Trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có hiệu lực, các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp chỉ được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật đơn lẻ. Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 1985 đã lần đầu tiên hệ thống hóa nhóm tội này thành một chương riêng biệt (Chương X), song thực tiễn áp dụng và lý luận pháp lý hình sự vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống: nhận thức lý luận về hoạt động tư pháp với tính cách là khách thể loại của tội phạm chưa hoàn chỉnh; tình hình diễn biến, cơ cấu và nguyên nhân của nhóm tội này chưa được tổng kết trên bình diện tội phạm học; các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 còn bộc lộ một số điểm bất hợp lý, thiếu sót, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong bối cảnh cải cách tư pháp.

  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng tình hình và nguyên nhân của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp từ khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có hiệu lực (01/01/1986) đến năm 1995; đánh giá các quy định tại Chương X của Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa xã hội - pháp lý và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự.

    Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

    1. Khảo sát và đánh giá tình hình, nguyên nhân của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong giai đoạn 10 năm (1986–1995) và nêu ra một số biện pháp phòng ngừa.
    2. Phân tích về mặt khoa học những giới hạn chủ quan và khách quan của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đặc biệt chú trọng phân tích khách thể loại của tội phạm, từ đó nhận xét và đánh giá các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này.
    3. Phân tích và đánh giá việc áp dụng chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
    4. Trên cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, đưa ra các kiến nghị về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề cơ bản về mặt tội phạm học và khoa học luật hình sự của nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, bao gồm tình hình, diễn biến, cơ cấu, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các biện pháp phòng ngừa, các dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội phạm nhóm và việc áp dụng chính sách hình sự. Luận án không đi sâu phân tích toàn bộ mọi cấu thành tội phạm cụ thể một cách biệt lập.
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm thực thi Bộ luật Hình sự năm 1985 (từ năm 1986 đến hết năm 1995).
    • Phạm vi không gian: Thực tiễn tư pháp trên phạm vi toàn quốc tại Việt Nam, dựa trên số liệu thống kê xét xử của Tòa án nhân dân các cấp và báo cáo nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

  • Các hướng nghiên cứu trong nước: Trước năm 1985, do điều kiện lịch sử, các công trình nghiên cứu về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp ở Việt Nam hầu như không đáng kể. Sau khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ban hành, nghiên cứu về nhóm tội này mới bước đầu được triển khai. Các tài liệu tiêu biểu gồm:

    • Cuốn sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp" do Nhà xuất bản Pháp lý ấn hành năm 1989.
    • Giáo trình Luật hình sự (Phần các tội phạm) của Trường Đại học Luật Hà Nội (1992) và Khoa Luật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993), đều dành một chương giới thiệu về nhóm tội này.
    • Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, trong đó có phần hướng dẫn xử lý các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
    • Một số bài viết khoa học phản ánh từng khía cạnh, tội danh đơn lẻ đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật), Tạp chí Tòa án nhân dân (Tòa án nhân dân tối cao), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), Tạp chí Kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao), Tạp chí Luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội).
  • Các hướng nghiên cứu quốc tế: Tại các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô trước đây, các công trình nghiên cứu có hệ thống về nhóm tội chống lại hoạt động tư pháp xuất hiện đồng loạt vào cuối thập niên 1950, gắn liền với thời điểm Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và các nước cộng hòa ban hành Bộ luật Hình sự mới. Các công trình tiêu biểu gồm:

    • Cuốn sách "Trách nhiệm hình sự đối với các tội chống lại hoạt động tư pháp" của Vla-xốp và I. Tria-giô-cốp-va (1968).
    • Công trình "Các tội chống lại hoạt động tư pháp" của L.M. Cô-rô-nức (1962).
    • Chuyên khảo "Các tội chống lại hoạt động tư pháp" của Ia.
    • Các bài báo khoa học trên các ấn phẩm định kỳ như tạp chí "Nhà nước và Pháp luật" (Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) và "Tư pháp Xô viết" (Bộ Tư pháp Liên Xô).
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trong và ngoài nước trước đó chủ yếu dừng lại ở việc phân tích từng cấu thành tội phạm cụ thể dưới góc độ giải thích luật học thuần túy. Luận án của tác giả Nguyễn Tất Viễn là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ và có hệ thống về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên cả hai bình diện: Tội phạm học (tình hình, quy luật động thái, cơ cấu, nguyên nhân, điều kiện, phòng ngừa) và Pháp luật hình sự (khách thể loại, giới hạn chủ quan - khách quan, đường lối xử lý, hoàn thiện quy định lập pháp).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và khái niệm sử dụng:

    • Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về bản chất giai cấp và chức năng của bộ máy tư pháp, đường lối và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
    • Nhóm tội phạm được tiếp cận theo Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1985: là các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
    • Khung phân tích tội phạm học xem xét tình hình tội phạm như một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, giai cấp và pháp lý - hình sự, phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa lượng (thực trạng, động thái) và chất (cơ cấu, tính chất), đặt trong mối quan hệ giữa cái chung (tình hình tội phạm nói chung), cái riêng (nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp) và cái đơn nhất (từng tội danh cụ thể).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

    • Phương pháp biện chứng duy vật: Xem xét tội phạm và các quan hệ pháp luật trong mối liên hệ phổ biến và sự vận động, biến đổi không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội.
    • Phương pháp lịch sử: Phân tích quá trình hình thành, phát triển của các quy định pháp luật hình sự về tội xâm phạm hoạt động tư pháp qua các giai đoạn lịch sử của Nhà nước Việt Nam.
    • Phương pháp hệ thống: Đặt các quy định của Chương X trong mối quan hệ hữu cơ với Phần chung, Phần các tội phạm khác của Bộ luật Hình sự và hệ thống pháp luật tố tụng, tổ chức tư pháp.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định của Việt Nam với lý luận và lập pháp hình sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
    • Phương pháp thống kê xã hội học/tư pháp: Thu thập, phân loại, tổng hợp và xử lý chuỗi số liệu thực tế về các vụ án, bị cáo, quyết định đình chỉ và diễn biến tội phạm trong 10 năm.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế:

    • Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân các cấp trên toàn quốc từ năm 1986 đến năm 1995.
    • Các báo cáo tổng kết công tác nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao (giai đoạn 1986–1996).
    • Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa IX về công tác quản lý Tòa án địa phương và công tác thi hành án; Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX.
    • Hồ sơ các vụ án hình sự điển hình xảy ra trong thực tiễn (vụ án Đỗ Minh Ngọc tại Quảng Ninh, vụ án tha trái pháp luật Nguyễn Minh Mau tại Vĩnh Long, vụ trốn trại giam Chí Hòa của Nguyễn Hữu Thanh, vụ trốn khỏi nơi dẫn giải tại Đông Anh - Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp - Những vấn đề tội phạm học

Chương này tập trung làm rõ ba nội dung lớn về mặt tội phạm học: đặc điểm tình hình, nguyên nhân - điều kiện và các biện pháp phòng ngừa nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

1. Đặc điểm tình hình các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Tác giả phân tích tình hình tội phạm qua hai bộ phận: phần tội phạm rõ (được phát hiện, xử lý) và phần tội phạm ẩn.

  • Tình hình tội phạm qua xét xử sơ thẩm (1986–1995): Trong 194 điều luật thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp có 17 điều luật (chiếm 8,75%). Tỷ lệ vụ án và bị cáo thuộc nhóm tội này so với tổng số án hình sự xét xử sơ thẩm trên toàn quốc được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
Năm Số vụ án nhóm tư pháp / Tổng số vụ án Tỷ lệ (%) Số bị cáo nhóm tư pháp / Tổng số bị cáo Tỷ lệ (%)
1986 54 / 20.347 0,26% 84 / 28.069 0,30%
1987 73 / 21.850 0,33% 119 / 31.832 0,37%
1988 120 / 24.699 0,48% 171 / 36.052 0,47%
1989 134 / 19.161 0,69% 198 / 27.852 0,71%
1990 246 / 25.024 0,98% 342 / 47.327 0,72%
1991 217 / 24.006 0,91% 296 / 39.920 0,74%
1992 378 / 23.636 1,59% 491 / 31.940 1,54%
1993 484 / 32.751 1,48% 630 / 35.992 1,75%
1994 512 / 31.195 1,64% 662 / 47.822 1,38%
1995 573 / 32.722 1,75% 792 / 54.008 1,47%

Tỷ lệ bị cáo bình quân trong 10 năm chiếm 0,94% tổng số bị cáo xét xử toàn quốc. Nhóm tội này có xu hướng tăng liên tục và có mức tăng bền bỉ nhất trong 10 nhóm tội của Bộ luật Hình sự. Một số tội danh có tốc độ gia tăng đột biến:

  • Tội không chấp hành án: năm 1993 tăng gấp 13,4 lần; năm 1994 tăng gấp 8 lần; năm 1995 tăng gấp 7 lần so với năm 1986.

  • Tội trốn khỏi nơi giam: năm 1993 tăng gấp 8,7 lần; năm 1994 tăng gấp 10,2 lần; năm 1995 tăng gấp 11,46 lần so với năm 1986.

  • Cơ cấu nội tại của nhóm tội phạm qua xét xử:

    • Chiếm tỷ trọng áp đảo là Tội trốn khỏi nơi giam (Điều 245) với 85,58% tổng số vụ án.
    • Đứng thứ hai là Tội không chấp hành án, cản trở thi hành án (Điều 240) chiếm 9,62%.
    • Các tội danh còn lại chỉ dao động ở mức từ 0,04% đến 1,18%.
    • Có 5 điều luật Tòa án không xét xử được vụ nào trong suốt 10 năm dù có khởi tố: Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 231); Ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 233); Bức cung (Điều 235); Từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định (Điều 242); Mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật (Điều 243).
  • Đặc điểm nhân thân bị cáo:

    • Tái phạm: Tỷ lệ tái phạm bình quân hàng năm giai đoạn 1990–1995 là 12,62% (năm 1990: 21,05%; năm 1991: 9,12%).
    • Độ tuổi: Bị cáo trên 30 tuổi chiếm tỷ lệ 71,66%, thể hiện sự chống đối quyết liệt và ý thức coi thường pháp luật có tính toán. Người chưa thành niên chiếm dưới 1%.
    • Giới tính: Nữ giới chiếm tỷ lệ bình quân 2,89% (thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nữ trong tổng số tội phạm toàn quốc: năm 1994 là 5,63%; năm 1995 là 9,47%).
    • Nghề nghiệp, chức vụ: Bị cáo là cán bộ, công nhân viên chức chỉ chiếm tỷ lệ bình quân 1,20% (năm 1990: 1,46%; 1991: 3,72%; 1992: 0,41%; 1993: 0,79%; 1994: 0,44%; 1995: 0,37%) và có chiều hướng giảm dần.
    • Thành phần dân tộc: Người dân tộc thiểu số chiếm 2,05% (chủ yếu phạm tội trốn khỏi nơi giam).
  • Tội phạm không qua xét xử (đình chỉ) và tội phạm ẩn:

    • Từ năm 1986 đến năm 1995 có 381 vụ án thuộc nhóm này bị đình chỉ (366 vụ ở giai đoạn điều tra, 15 vụ ở giai đoạn xét xử). Trong 366 vụ bị đình chỉ điều tra, chỉ có 8 vụ có căn cứ minh oan (không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm theo Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự), còn lại là các căn cứ không có tính chất minh oan.
    • Tác giả phân loại tội phạm ẩn của nhóm này theo 3 cấp độ ẩn (Cấp 1: hành vi lộ diện cao như trốn trại, không chấp hành án; Cấp 2: hành vi ít bộc lộ do nạn nhân không tố giác như bức cung, dùng nhục hình; Cấp 3: hành vi tinh vi, lợi dụng kỹ năng nghiệp vụ như làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra bản án trái pháp luật) và 3 dạng ẩn (ẩn tự nhiên, ẩn nhân tạo, ẩn thống kê).

2. Nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Luận án phân tích nguyên nhân và điều kiện ở hai cấp độ:

  • Nguyên nhân, điều kiện chung: Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; sự lạc hậu của ý thức xã hội (tư tưởng cá nhân, ích kỷ, thói quen "phép vua thua lệ làng"); mặt trái của cơ chế thị trường; sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội; công tác giáo dục pháp luật yếu kém; hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ.
  • Nguyên nhân, điều kiện đặc thù theo từng nhóm chủ thể:
    • Nhóm cán bộ, nhân viên tư pháp: Nhận thức sai lệch về quyền lực, tư tưởng cửa quyền, hống hách (như vụ can bộ công an Đỗ Minh Ngọc dùng nhục hình tại Quảng Ninh); bệnh thành tích, động cơ vụ lợi, nhận hối lộ (như vụ Phó Phòng Cảnh sát điều tra Nguyễn Hồng Nhựt và đồng phạm tha trái pháp luật Nguyễn Minh Mau tại Vĩnh Long); thái độ thờ ơ, tắc trách trong quản lý can phạm (dẫn đến việc tử tù Nguyễn Hữu Thanh trốn khỏi trại giam Chí Hòa năm 1995); trình độ chuyên môn yếu kém, đào tạo chắp vá (số liệu báo cáo Quốc hội khóa IX cho thấy ở cấp tỉnh có 65% Thẩm phán đào tạo qua luân huấn, tại chức, chuyên tu; gần 20% cao đẳng; chỉ 10% được đào tạo chính quy).
    • Nhóm người tham gia tố tụng và người chấp hành án: Ý thức chống đối pháp luật cao; cơ sở vật chất nơi giam giữ xuống cấp nghiêm trọng (nhiều nơi là nhà lá, phương tiện bảo vệ lỏng lẻo theo Nghị định 149/HĐBT và Pháp lệnh thi hành án phạt tù 1993); cán bộ dẫn giải sơ hở (vụ 4 bị cáo trốn tại Đông Anh - Hà Nội năm 1994); tâm lý sợ bị trả thù hoặc phong tục tập quán ràng buộc dẫn đến khai báo gian dối.
    • Nhóm chủ thể khác: Động cơ vụ lợi, tính không trung thực, sự buông lỏng kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động tư pháp.

3. Một số biện pháp phòng ngừa các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

  • Hoàn thiện pháp luật hình sự (tội phạm hóa hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo lĩnh, cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, tiết lộ bí mật tư pháp; hoàn thiện khung hình phạt).
  • Hoàn thiện pháp luật tố tụng (quy định sự tham gia bắt buộc của luật sư khi hỏi cung bị can để ngăn chặn bức cung, nhục hình; sửa đổi thủ tục giám đốc thẩm).
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát của xã hội đối với cơ quan tư pháp (chế định Hội thẩm nhân dân, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và báo chí theo Điều 8 Bộ luật Tố tụng hình sự).
  • Nâng cao ý thức pháp luật và đổi mới đào tạo cán bộ tư pháp: sớm thành lập trường đào tạo Thẩm phán và các chức danh tư pháp (Thư ký, Chấp hành viên, Công chứng viên, Luật sư), chú trọng môn Đạo đức học tư pháp.
  • Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan tư pháp và các trại tạm giam, trại cải tạo.

Chương 2: Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Chương này đi sâu giải quyết các vấn đề lý luận về ranh giới định tội và cấu thành tội phạm của nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp:

  • Những giới hạn khách quan của việc quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp:
    • Khách thể loại: Luận án xác định khách thể loại của nhóm tội này là hoạt động đúng đắn, bình thường của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
    • Mặt khách quan: Phân tích bản chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động), hậu quả thiệt hại đối với hoạt động tư pháp và trật tự quản lý nhà nước, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, cũng như hoàn cảnh, thời gian, địa điểm và công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm.
  • Những giới hạn chủ quan của việc quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp:
    • Chủ thể của tội phạm: Phân hóa rõ hai nhóm chủ thể: chủ thể đặc biệt (cán bộ có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án; người tham gia tố tụng; người đang bị giam giữ hoặc có nghĩa vụ thi hành án) và chủ thể thông thường (những người khác thực hiện hành vi che giấu, không tố giác, can thiệp trái pháp luật).
    • Mặt chủ quan: Phân tích hình thức lỗi (chủ yếu là lỗi cố ý trực tiếp), động cơ và mục đích phạm tội (vụ lợi cá nhân, động cơ trả thù, thành tích cục bộ, hoặc né tránh trách nhiệm pháp lý).

Chương 3: Áp dụng chính sách hình sự và một số vấn đề hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Chương này tập trung vào thực tiễn thực thi pháp luật và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Đường lối xử lý và hình phạt:
    • Phân tích nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự: kiên quyết xử lý nghiêm trị đối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan tư pháp lợi dụng chức vụ để phạm tội; kết hợp trừng trị với giáo dục, cải tạo; áp dụng chính sách khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo.
    • Đánh giá tính tương xứng và hiệu quả của hệ thống hình phạt chính và các hình phạt bổ sung (đặc biệt là hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề) cùng các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
  • Một số vấn đề hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự:
    • Chỉ ra những điểm bất hợp lý, khoảng trống lập pháp trong Chương X của Bộ luật Hình sự năm 1985.
    • Đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều luật, sửa đổi cấu thành định tội, phân hóa khung hình phạt và hình sự hóa một số hành vi nguy hiểm mới nhằm phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

    1. Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp dưới hai góc độ kết hợp: Tội phạm học và Luật hình sự.
    2. Xây dựng luận cứ khoa học về các dấu hiệu đặc trưng của cấu thành nhóm tội phạm, làm rõ bản chất khách thể loại của nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong mối quan hệ với quyền con người và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
    3. Phân loại và chỉ ra bản chất của "tội phạm ẩn" trong lĩnh vực tư pháp theo 3 cấp độ và 3 dạng ẩn, cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá chính xác thực trạng vi phạm pháp luật tư pháp.
  • Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:

    1. Cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình tội phạm, động thái, cơ cấu và nhân thân người phạm tội trong 10 năm (1986–1995) dựa trên chuỗi số liệu thống kê tư pháp thực tế.
    2. Phát hiện các nguyên nhân và điều kiện phạm tội đặc thù của từng nhóm chủ thể, đặc biệt là tình trạng vi phạm của cán bộ tiến hành tố tụng và sự xuống cấp về cơ sở vật chất của các trại giam.
    3. Đề xuất hệ thống kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể Chương X Bộ luật Hình sự năm 1985:
      • Tội phạm hóa các hành vi mới: hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo lĩnh, hành vi cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, hành vi tiết lộ bí mật tư pháp.
      • Sửa đổi các cấu thành tội phạm và phân hóa khung hình phạt để nâng cao tính răn đe và bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn xét xử.
      • Kiến nghị tố tụng: Quy định bắt buộc có sự tham gia của luật sư khi hỏi cung bị can; cải tổ thủ tục giám đốc thẩm; thành lập trường đào tạo chuyên nghiệp Thẩm phán và các chức danh tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình (theo văn bản):

    • Do tính chất đa dạng và phức tạp của đề tài (liên quan đến cả nguyên tắc chung của Bộ luật Hình sự, tội phạm học và nhiều văn bản pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp), luận án không có điều kiện đi sâu nghiên cứu, giải quyết cấu thành chi tiết của từng tội danh cụ thể mà chỉ tập trung vào các vấn đề nền tảng ở cấp độ nhóm tội phạm.
    • Về mặt số liệu thống kê thực tế, báo cáo của Tòa án các địa phương về vấn đề tái phạm đối với nhân thân bị cáo trong giai đoạn đầu chưa được đầy đủ; biểu mẫu thống kê xét xử còn gộp chung số liệu tái phạm và tái phạm nguy hiểm vào cùng một cột, chưa tách biệt rành mạch hai tiêu chí này; một số địa phương (tỉnh, huyện) có thời điểm không báo cáo đầy đủ số liệu lên cấp trên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Nghiên cứu chuyên sâu về cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử của từng tội danh cụ thể trong nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
    • Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí và kỹ thuật thống kê tư pháp nhằm nhận diện và kéo giảm tỷ lệ tội phạm ẩn trong hoạt động tư pháp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo về phương pháp kết hợp nghiên cứu tội phạm học với phân tích quy phạm luật hình sự; cung cấp khung phân tích về khách thể loại và phương pháp phân loại tội phạm ẩn trong lĩnh vực tư pháp.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành luật: Công trình là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập các môn học Luật hình sự (Phần các tội phạm), Tội phạm học và Luật tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội...). Phần số liệu và phân tích nguyên nhân tại Chương 1 có giá trị tham khảo cao.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Các kiến nghị hoàn thiện điều luật tại Chương 3 và các giải pháp phòng ngừa tại Chương 1 có giá trị trực tiếp cho Ban soạn thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự (chuẩn bị cho Bộ luật Hình sự năm 1999), cũng như cung cấp căn cứ thực tiễn cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an trong việc chỉ đạo nghiệp vụ, kiện toàn đội ngũ cán bộ và nâng cấp cơ sở giam giữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp so với tổng số án hình sự xét xử sơ thẩm toàn quốc trong giai đoạn 1986–1995 diễn biến như thế nào?
Trả lời: Trong 10 năm, tỷ lệ này tăng liên tục từ 0,26% (54 vụ/20.347 vụ năm 1986) lên 1,75% (573 vụ/32.722 vụ năm 1995). Nhóm tội này là nhóm duy nhất trong 10 nhóm tội của Bộ luật Hình sự có mức tăng bền bỉ trong suốt 10 năm. Tỷ lệ số bị cáo nhóm này bình quân chiếm 0,94% tổng số bị cáo xét xử sơ thẩm toàn quốc.

2. Tội danh nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp bị xét xử trong 10 năm (1986–1995)?
Trả lời: Tội trốn khỏi nơi giam (Điều 245 Bộ luật Hình sự 1985) chiếm tỷ trọng áp đảo lớn nhất với 85,58% tổng số vụ án bị đưa ra xét xử. Đứng thứ hai là tội không chấp hành án, cản trở thi hành án (Điều 240) chiếm 9,62%.

3. Vì sao tỷ lệ cán bộ, nhân viên tư pháp bị xét xử về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp lại chiếm tỷ lệ rất thấp (bình quân 1,20%)?
Trả lời: Do nhiều nguyên nhân: một số cán bộ có hành vi vi phạm đã sử dụng biện pháp nghiệp vụ tinh vi để che chắn, nguy trang tội phạm; nạn nhân bị phụ thuộc nên không dám tố giác; các cơ quan tiến hành tố tụng có trường hợp không khởi tố hoặc đình chỉ vụ án không đúng quy định, tạo ra lượng tội phạm ẩn nhân tạo và ẩn tự nhiên rất lớn trong nhóm chủ thể này.

4. Luận án phân chia các cấp độ "độ ẩn" của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp như thế nào?
Trả lời: Luận án chia thành 3 cấp độ:

  • Độ ẩn cấp 1: Hành vi bộc lộ rõ, lan truyền thông tin nhanh, độ ẩn thấp (như tội trốn khỏi nơi giam, tội không chấp hành án).
  • Độ ẩn cấp 2: Hành vi không bộc lộ rõ, ít người biết hoặc nạn nhân không tố giác (như bức cung, dùng nhục hình, ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật).
  • Độ ẩn cấp 3: Hành vi rất tinh vi, lợi dụng kỹ năng nghề nghiệp và sơ hở pháp luật kiểu "ném đá giấu tay", độ ẩn rất cao (như làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật, cản trở thi hành án).

5. Luận án đưa ra những kiến nghị cụ thể nào về mặt lập pháp hình sự và tố tụng?
Trả lời: Luận án kiến nghị tội phạm hóa các hành vi mới trong Bộ luật Hình sự (vi phạm nghĩa vụ bảo lĩnh, cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, tiết lộ bí mật tư pháp); quy định sự tham gia bắt buộc của luật sư khi hỏi cung bị can; hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm và thành lập trường chuyên trách đào tạo Thẩm phán và các chức danh tư pháp.


Kết luận

Luận án "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tất Viễn là công trình khoa học chuyên khảo toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận luật hình sự và nghiên cứu thực nghiệm tội phạm học về nhóm tội tại Chương X Bộ luật Hình sự năm 1985. Dựa trên chuỗi số liệu thực tiễn 10 năm (1986–1995), luận án đã làm rõ thực trạng, cơ cấu, động thái gia tăng và nguyên nhân phát sinh tội phạm theo từng nhóm chủ thể. Các phát hiện về tội phạm ẩn cùng hệ thống giải pháp phòng ngừa và kiến nghị sửa đổi lập pháp trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn trực tiếp đối với công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.