Chương 1. Mét số van dé lý luận chung vẻ thực hành quyển công tổ đổi với các vụ án về tội Lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tai sản. Thực trạng thực hành quyền công tổ đối với các vu án về tội Lam dụng tin nhiệm chiếm đoạt tai sản trên địa bản thành phổ Ha Nội Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực hảnh quyền công tổ đổi với các vu án vé tội Lam dung tin nhiệm chiếm đoạt tai sẵn trên địa bản thành phó Hà Nội.
MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE THỰC HANH QUYEN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CAC VỤ AN VE TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIEM CHIEM BOAT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội Lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. LLL Khái niệm Để lam rõ khái niêm THQCT đổi với các vu án vẻ tôi Lam dụng tin nhiệm chiếm đoạt tai sản, trước hết phải hiểu thé no là quyển công tô và THQCT. Trong khoa học luật tô tụng hình sự (TTHS), đây là những khái siệm điển hình khi dé cập đến chức năng của VKS các cấp.
Việc xac định các khái niệm nảy có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trong, không chỉ giúp làm rõ vi trí, vai trò của VS trong bộ máy nhà nước, trong mỗi quan hệ giữa các cơ quan từ pháp với nhau nà còn góp phân thông nhất nhận thức các vẫn để lý luôn và tăng cường hiệu quả hoạt động thực tiến, nhằm dap ứng yêu cầu cải cách tư pháp ma Đảng va Nhà nước để ra. Hai cuỗn Đại từ điển tiếng Việt năm 1999, Từ didn tiếng Việt năm 2018 déu định nghĩa công té la: "Đg/Đẹt. Điều tra, truy tổ, buộc tội kế phạm pháp ‘va phat biểuý kiến trước Tòa án” [40, tr 459; 54, tr. 265] vả theo Số tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thi công tổ được định nghĩa như sau: "Nhân danh.
Nha nước trong một phiên tòa thực hiện quyền truy tổ, buộc tôi bị cáo và phát tiểu ý kiến trước Tòa án. Còn trong Từ điển luật học năm 2006 thủ: "Công tố lê quyền của nha nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [41, tr. Có thể thấy, các định nghĩa nảy vẫn còn hạn. chế ở một số điểm: Định nghĩa thứ nhất chỉ mang tính chất liệt ké, định nghĩa thứ hai lại giới hạn pham vi công t quá hẹp (chỉ trong phiên toa) hay định ir nghĩa thử ba quá khải quát bởi vi hoạt động cia Co quan diéu tra, Toa án.
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng lả hoạt động truy cứu trách. nhiệm hình sư đối với người phạm tôi) nhưng tựu chung lại, đều có nêu được nội dung thuộc vé bản chất khi nói dén vẫn đề công tổ, đó la việc buộc tội đổi với người pham tôi thông qua quyền lực công, Về khái niêm quyển công tổ, Số tay thuật ngữ pháp lý thông dung định nghĩa quyền công tổ như sau: “Quyển nhân danh Nba nước dé truy tổ những người vi pham pháp luật ma hành vi đó được quy định là tội pham trong Bộ luật hình su của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Từ điển luật học năm 2006: "Quyển công té là quyển buộc tội nhân danh nha nước đối với người pham tôi, do đó, đối tượng tác đông của quyền công tổ là tôi phạm và người phạm tội. Nội dung của quyển công tổ là su buộc tôi đối với người đã thực hiện hành vi pham tội” [41, tr 188].
Trong cuốn sách “Thực hanh quyên công td và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điểu tra”, các tác giã cũng trích dẫn va phân tích rất nhiễu quan điểm về quyền công tổ: “Quan điểm đông nhất khái niệm quyển công tổ với. hoạt động kiếm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi Hiển pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 - Hiến pháp năm 1992)”, quan. điểm “quyên công tô là quyền của nha nước giao cho Viện kiểm sát truy tô kẻ phạm tôi ra Tòa án, thực hiện sư buộc tôi tai phiên tòa (thực hiện quyền công tố)”; quan điểm “quyên công tổ là quyên đại diện cho nha nước để đưa các vụ. việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử dé bao vệ lợi ích của nha nước, bao vệ trật tự pháp luật”, quan điểm “quyền công tổ lả quyền nha nước.
giao cho các cơ quan tiền hành tổ tung trong việc truy cứu trách nhiệm hình sử và áp dung các ché tai bình sự đổi với người phạm tôi", quan điểm "quyển công tổ bao gồm quyền khởi td, điều tra vụ án, quyền truy tổ vả buộc tội bị cáo trước Tòa án”, quan điểm “quyển công tô 1a sự cao buộc của nha nước. 12 đổi với các cả nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hanh chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự”; quan điểm “quyển. công tổ là quyền của nha nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa để sét xử, vi nhà nước nhân danh 24 hội duy ti trật tư chung bằng pháp luật” [49, tr. 22 - 31] Theo đó, có thể tom tat các quan điểm nêu trên thành4 nhóm chính như sau: Tinie nhấ , công tổ không phải là chức năng độc lập của VKS ma chỉ la hình thức thực hiện chức năng kiểm sắt việc tuân theo pháp luật trong TTHS, thứ hơi, quyên công tố là quyền của VS thay mặt aha nước bảo vệ lợi ích công khi có các vi phạm pháp luật, tức là VKS THQCT không chỉ trong TTHS mà cả trong lĩnh vực tổ tung khác như dân sự, kinh tế, hành chính.
thir ba, quyền công tô là quyền của nha nước giao cho VKS truy tổ người pham tôi ra trước tùa án va thực hành việc buộc tội đó tại phiên tỏa, thai te, quyển công tổ là quyền của nha nước giao cho các cơ quan nhất định khởi td, điều tra và truy tổ người phạm tội ra trước Toa án để xét xử và thực hiện việc. ‘bud tội trước phiên tòa. Nhìn chung, các quan điểm nêu trên đều có những khía cạnh hợp lí, phù hợp với quy định của pháp luật va thực tiễn nước ta qua từng thời ki, tuy nhiên, đến thời điểm hiện tai, chúng đã thể hiện một số điểm. bất cập nhất định: Hoặc là xem nhẹ bản chất của quyển công tổ, không coi THQCT là hoạt động độc lập cia VKS được nha nước uj quyển ma phụ thuộc vào chức năng kiểm sat việc tuân theo pháp luật, hoặc là đánh đồng THQCT với kiểm sát việc tuân theo pháp luật, dẫn đến mở rộng phạm vi quyển công tổ sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế.
Ja thu hẹp phạm vi quyên công tô, chỉ gói gọn quyền công tổ trong giai đoạn truy tô, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Theo đó, để zác định khái niệm quyển. công tổ, tác giả cho rằng cẩn phải khẳng đính một số vấn để sau Mot Tà, quyền công tổ là quyển của nhà nước trong linh vực TTHS, được nha nước. l3 giao cho một cơ quan cụ thể thực hiện, ở nước ta là VKS; hat Id, quyền công, tố về thực chất 1a quyển của nha nước nhằm buộc tội, truy cửu trách nhiệm.
hình sự đổi với người có hành vi phạm tội. Để thực hiện chức năng công tổ, 'VKS phải thu thập day đủ tai liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sỡ đó, quyết định truy tô bị can ra trước Toa án và bảo vệ sự. ‘budc tội tai phiên tòa; ba ià, quyển công tổ mang tính cụ thé, tức chỉ xuất hiện. trong trường hợp tôi phạm cụ thé đã được thực hiện và đổi với những người phạm tội cụ thể [43, tr 8 - 10] Cũng trong cuốn "Thực hành quyền công tổ va kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, các tác giả đã đưa ra quan điểm của mình vẻ quyền công tổ như sau: “Quyển công tố là quyển nhân danh nba nước thực hiện việc truy cứu trách nhiêm hình sự đối với người pham tôi.
Quyển nay thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ỡ nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm vả truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người pham tôi. Để lam được diéu này, cơ quan có chức năng THQCT phải có trách nhiệm thu thập day đũ tai liệu, chứng cứ để xác định tôi pham. và người pham tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tổ ra trước Tòa án và bao về sự buộc tôi đó trước phiên tòa” [49, tr.
Mặc dù định nghĩa nay đã nêu được tất ca các van để khi nói đến quyển công tô nhưng vẫn còn mang tinh liệt kê, quá cụ thé ma chưa bao quát về ban chất đặc trưng của quyền công ta, đó là buộc tội Từ những đánh giá trên cũng như căn cứ các quy định của pháp luật tiện hành, có thể định nghĩa quyên công tô như sau: “Quyén công tổ la quyên cũa nhà nước giao cho VES tuc hiện việc buộc tôi đối với người phạm tôi nhằm dea người đó ra xét xứ trước tòa án, đồng thời bảo vệ sự buộc tội 8ó”. Đối với khái niêm THQCT, do được phát sinh từ quyển công tô nên cũng như khái niêm quyển công tô nêu trên, các học gia từ trước dén nay đã 4 đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau dé giải thích cho khái niệm nay, vi dụ như: Theo Tử điển luật học năm 2006 và sách Thực hành quyển công tổ và kiểm sat các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điểu tra: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyển năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tổ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tôi trong các giai đoạn diéu tra, truy tổ va xét xử." [41, tr 188; 49, tr 57], theo ý kiến của Phó giáo sư ~ Tiến sĩ Trần Văn Độ được ghi nhận trong Kỷ yếu dé tài cap Bộ (Những van để lý luận về quyển công tổ và thực tiễn hoạt đông công té ở Việt Nam từ năm. 1945 đến nay): "THQCT 1a thực hiện các hank vi té tung cân thiết theo quy định của pháp luật TTHS dé truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tôi, đưa người phạm tôi ra xét xử trước Tòa án và bao vệ su buộc tôi đó” [42, tr. Mặc dit sử dụng cách diễn đạt khác nhau nhưng hai định nghĩa này đều chỉ đến việc thực hiện nôi dung của quyển công, 6 mà theo như khái niệm.