Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰVỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về ma túy Trong khoa học Luật Tố tụng hình sự việc xác định khái niệm quyền công tố và khái niệm thực hành quyền công tố có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như ý nghĩa về mặt thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết được tốt vấn đề về khái niệm quyền công tố cũng như thực hành quyền công tố thì sẽ giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng, từ đó xác định được chức năng của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện cho quyết định đúng đắn về thực hiện tổ chức Viện kiểm sát các cấp. Điều này cũng góp phần thực hiện các Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Từ trước đến nay, quan niệm khác nhau về quyền công tố trong khoa học luật TTHS rất phong phú. Thực tiễn hiện nay trong sách báo pháp lý nước đang có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố của Viện kiểm sát. Nhưng mỗi quan điểm lại nhìn nhận ở những góc cạnh khác nhau, đều đưa ra được những cái hợp lý, lý giải đều dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn ở nước ta nhưng theo quan điểm của tác giả các quan điểm đó vẫn còn đang bộc lộ những bất cập nhất định. Tác giả xin đưa ra một số nhóm quan điểm như sau Quan điểm thứ nhất trước năm 1 80 khi Hiến pháp năm 1 80 chưa có quy định về chức năng của Viện kiểm sát thì một số tác giả đã đưa ra khái niệm: Công tố không phải là chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS.
Quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Quan điểm này xuất phát từ quan niệm phổ biến của các nhà TTHS học Xô viết trước đây [44, tr. 7 luan an Quan điểm thứ hai Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát thay mặt nhà nước bảo vệ lợi ích công (lợi ích nhà nước, xã hội và lợi ích công dân) khi có vi phạm pháp luật. Vì vậy, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố không chỉ trong lĩnh vực TTHS mà cả trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, lĩnh vực kinh tế và hoạt động tư pháp khác [40].
Quan điểm thứ ba Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát để thực hiện việc truy tố người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án nhân dân và thực hành việc buộc tội tại phiên tòa [14]. Quan điểm thứ tư Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho cơ quan nhất định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa [14, tr. Các nhóm quan điểm trên còn bộc lộ một số bất cập như Một là: thể hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công tố vào kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát; coi thực hành quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Vì vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền.
Hai là:đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế. Ba là:thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công tố trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Theo từ điển luật học thì Q n công tố là n b ộc tội nh n anh Nhà nước đối với người phạm tội [44]. TS Lê Văn Cảm khẳng định: n công tố hiể theo nghĩa ộng bao gồm đi t a tội phạm, t tố, b ộc tội t ước tòa và cả n kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng nằm t ong n công tố [6]. Cũng có tác giả cho rằng công tố là một quyền thuộc về xã hội và được thi hành nhân danh xã hội, bắt nguồn từ sự vi phạm của người phạm tội và nhằm mục 8 luan an đích buộc người phạm tội chịu sự trừng phạt do Tòa án đại diện cho xã hội xét xử theo quy định của pháp luật. Quan điểm này tách bạch quyền công tố và thi hành quyền công tố đối với người phạm tội không có nguồn gốc từ nhà nước mà có nguồn gốc từ xã hội hay thuộc về xã hội.
Nhà nước chỉ là chủ thể nhân danh xã hội để thi hành quyền công tố. Các quan điểm trên đã bộc lộ những hạn chế nhất định, hơn nữa đối với thực tiễn quy định pháp luật hiện hành đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự đã được BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bổ sung về chủ thể phạm tội là pháp nhân thương mại phạm tội trong một số tội phạm theo quy định. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả cần bổ sung thêm chủ thể này vào đối tượng bị truy tố trong khái niệm quyền công tố của VKS [30]. Từ những quan điểm trên cũng như với thực tiễn trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về quyền công tố, với nhận thức của mình, tôi cho rằng để xác định và đưa ra được khái niệm quyền công tố cần phải khẳng định một số vấn đề sau hứ nhất, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh của Nhà nước.
Nhà nước uỷ quyền cho cơ quan trong bộ máy cơ quan nhà nước, phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng cụ thể là cơ quan Viện kiểm sát thực hiện quyền này. hứ hai, quyền công tố thực chất là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội (bao gồm người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội). Trên cơ sở điều tra, xác minh về tội phạm Viện kiểm sát được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố truy tố chủ thể phạm tội ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa; hứ ba, quyền công tố không tồn tại chung chung mà mang tính cụ thể, tức là chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể được BLHS quy định đã thực hiện trên thực tế và đối với những chủ thể phạm tội cụ thể theo quy định pháp luật. Như vậy, quyền công tố có thể được khái niệm như sau: Quy n công tố là quy n của Nhà nước, được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát làm nhiệm vụ thực hiện các quy n năng theo định của pháp luật để nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nh n thương mại có đầ đủ năng lực trách nhiệm hình sự phạm vào một tội cụ thể được định trong Bộ luật hình sự, để truy tố đối với người hoặc pháp nh n thương mại phạm tội a t ước Tòa 9 luan an án để xét xử, t n cơ sở đảm bảo thu thập đầ đủ chứng cứ chứng minh tội phạm, đồng thời bảo vệ việc buộc tội t ước phiên tòa”.
Quyền công tố và thực hành quyền công tố là các khái niệm được nhắc đến rất nhiều trong luật tố tụng hình sự ở nước ta về những vấn đề chức năng của cơ quan Viện kiểm sát các cấp. Tại Điều 138 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1 80 lần đầu tiên quy định về chức năng, quyền hạn của Viện kiểm sát “Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ an khác th ộc Hội đồng Bộ t ưởng, các cơ uan chính quy n địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ t ang nh n n, các nh n vi n Nhà nước và công dân, thực hành quy n công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện Kiểm sát nh n n địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quy n công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình” [19]. Chức năng, quyền hạn này của Viện kiểm sát nhân dân cũng được nhắc đến tại Điều 137 Hiến pháp năm 1 2 nhưng được sửa đổi, bổ sung một cách chặt chẽ, cụ thể bao quát hơn, quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định và tại Hiến pháp năm 2013 cũng được nhắc lại lần nữa tại Điều 107. Cho đến thời điểm hiện nay Hiến pháp và các quy định khác tại Luật tổ chức VKSND và các văn bản Luật tố tụng hình sự khác đều khẳng định rằng Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Vấn đề này cũng đã được BLTTHS năm 2015 quy định tại Điều 20 về Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự: “Viện kiểm sát thực hành quy n công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đ u phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, đi u tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp l ật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.