CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm Tranh tụng hiểu theo nghĩa cơ bản nhất theo Từ điển tiếng Việt thì chính là sự kiện cáo nhau [47, tr. Đó là tranh luận giữa hai bên có lập trường tương phản nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử.
Tuy nhiên, đây là cách hiểu thông thường, và ở khía cạnh này, thuật ngữ tranh tụng được dùng để nói chung trong tất các các hình thức tố tụng như: dân sự, hình sự, hành chính… [50, tr. Tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà người đứng ra phân xử trong cuộc tranh đấu này chính là Tòa án [50, tr. Xét về mặt lịch sử, tranh tụng hình sự là một nội dung cụ thể của nền tư pháp tranh tụng hình thành từ thời cổ đại mà tư tưởng của nó bắt nguồn từ nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp là Plato [53, tr.
Ông cho rằng “Bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện, và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật” [53, tr. Ý tưởng này của Plato được các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia khác ở Châu Âu, với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” [16, tr. Như vậy, vấn đề tranh tụng đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử tư pháp, bản chất của nó là hoạt động đối đáp liên tục giữa các bên có lợi ích đối 7 luan an kháng nhau trước người trọng tài đóng vai trò phân xử để đi tìm chân lý.
Bên cạnh đó, xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng được hiểu theo ba nội dụng khác nhau: thứ nhất được hiểu là một mô hình tố tụng; thứ hai được hiểu là một nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự; thứ ba được hiểu là phương thức, là giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh tụng [49, tr. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là cách thức đi tìm sự thật khách quan của vụ án mà hoạt động tố tụng hình sự luôn muốn hướng tới. Theo nhiều luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ưu điểm nhất trong việc vừa có thể tìm ra sự thật khách quan của vụ án vừa có thể bảo vệ hữu hiệu quyền con người của người buộc tội và chống oan sai, có thể hiểu: “Tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [45, tr. Với ý nghĩa là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong việc thực hiện quá trình tranh cãi bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, từ đó tìm ra sự thật khách quan của vụ án [45, tr.
Như vậy, tranh tụng trong tố tụng hình sự thực chất là quá trình vận động tác động qua lại giữa hai chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa [38, tr. Chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng này được tạo điều kiện “bình đẳng” với nhau trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự [38, tr. Nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới không chỉ ở những nước có mô hình tố tụng tranh tụng mà còn ở những nước có mô hình 8 luan an tố tụng pha trộn (ví dụ như ở Việt Nam) [38, tr. Tuy có sự thể hiện ở các mức độ khác nhau, mặc dù có thể được thể hiện hoặc chưa thể hiện trong văn bản pháp luật cụ thể là BLTTHS thì nguyên tắc tranh tụng vẫn đang là cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy định của BLTTHS cũng như thực hiện quá trình giải quyết vụ án để tìm ra sự thật khách quan.
Mặc dù đã xuất hiện và được thừa nhận từ rất lâu trong lịch sử tư pháp ở các nước phát triển khác, nhưng vấn đề tranh tụng cũng như nguyên tắc tranh tụng rất ít được nghiên cứu ở Việt Nam và đặc biệt cho đến trước năm 2013 thì nó chưa được thừa nhận trong các văn bản pháp lý chính thức của Nhà nước [50, tr. Sự thừa nhận mang tính sơ khai đầu tiên về tranh tụng ở Việt Nam trong các văn bản chính thức của Đảng đó chính là Nghị quyết 08/2002/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, xác định“…việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo …để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” [50, tr. Tiếp theo đó, vấn đề tranh tụng tiếp tục được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” thể hiện, theo đó: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp” [50, tr. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng tiếp tục được thể chế hóa ở Hiến Pháp 2013, tại khoản 5 Điều 103 quy định” nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” [50, tr.
Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được cụ thể hóa tại Điều 26 và Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa 9 luan an ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án” [36, tr. Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự" đó là, quá trình tác động qua lại bằng việc tranh luận, đối đáp giữa KSV với các chủ thể khác từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phần tranh luận nhằm làm sáng rõ sự thật khách quan, làm rõ tất cả các tình tiết của vụ án, bảo vệ quan điểm của VKS trong Cáo trạng, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đặc điểm Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự (STVAHS) là một hoạt động đặc biệt, thể hiện ở một số đặc điểm sau đây: - Khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, KSV là một chủ thể tranh luận đặc biệt. Bởi vì KSV tranh luận với tư cách nhân danh công quyền, đưa ra sự cáo buộc công khai đối với Bị cáo về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại, bảo vệ pháp chế và kỷ cương xã hội.
Trong 10 luan an khi đó, Bị cáo, Người bào chữa, Bị hại, Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp và Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh luận với tư cách là cá nhân công dân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi. Sự đặc biệt còn thể hiện ở chỗ sự bắt buộc có mặt tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự của KSV. Theo quy định của BLTTHS thì tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự có mặt của những người tham gia tố tụng là không bắt buộc 100%, trong nhiều trường hợp tuy họ vắng mặt nhưng phiên tòa vẫn được tiến hành xét xử. Nhưng sự có mặt của KSV là bắt buộc, nếu KSV vắng mặt thì trong mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa.
-Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, KSV không chỉ là chủ thể tranh tụng mà còn là chủ thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Nhiệm vụ này xuất phát từ chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Những chủ thể tranh tụng khác như Bị cáo, Người bào chữa, Người bị hại… là đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa. KSV tiến hành kiểm sát việc tranh tụng theo các nội dung như: tư cách chủ thể, trình tự, nội dung và phạm vi tranh tụng theo quy định của BLTTHS.
Như vậy, khi tranh tụng tại phiên tòa, KSV là người áp dụng và tuân thủ pháp luật, đồng thời giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể khác.