Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam 1. Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam 1. Khái niệm tạm giữ, tạm giam Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong hoạt động tố tụng hình sự, do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã và đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, ngăn chặn hành vi trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác định sự thật của vụ án hoặc để đảm bảo thi hành án.
Theo Từ điển luật học năm 2006, khái niệm tạm giữ được định nghĩa như sau: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với việc phạm tội [35, trang 76]. Theo quy định của Điều 117 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Mục đích của tạm giữ là để ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra, tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, 9 luan an đánh giá tính chất, mức độ hành vi trái pháp luật của người bị tạm giữ để quyết định khởi tố hình sự, tiếp tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn thích hợp hoặc trả lại tự do cho người bị tạm giữ. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ bao gồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã.
Người bị tạm giữ khi bị áp dụng biện pháp này sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật xác lập và bảo vệ. Do vậy, chỉ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được áp dụng biện pháp này khi có những căn cứ và mục đích áp dụng cụ thể, rõ ràng. Biện pháp này cũng phải được áp dụng theo đúng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục. Theo từ điển luật học: Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.
Đây là biện pháp ngăn chặn, cách ly bị can, bị cáo trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, bị cáo, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi [353, tr. Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo để cách ly bị can, bị cáo trong các trường hợp do pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được thuận lợi. Mục đích của tạm giam là nhằm ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, để bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn. Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn “có thể áp dụng” tức là không bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ căn cứ, điều kiện để áp dụng tạm giam.
10 luan an Đối tượng bị tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo, nhưng không phải mọi bị can, bị cáo đều bị tạm giam, mà chỉ những bị can, bị cáo có một trong các điều kiện sau thì mới có thể bị tạm giam: Một là, bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng Hai là, bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt từ trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, không chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Ba là, bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Cũng giống như biện pháp tạm giữ, khi áp dụng biện pháp tạm giam, người bị tạm giam sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân. Do vậy, chỉ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được áp dụng biện pháp này khi có những căn cứ và mục đích áp dụng cụ thể, rõ ràng.
Biện pháp này cũng phải được áp dụng theo đúng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm giam. Quản lý nhà nước trong thi hành tạm giữ, tạm giam: * Khái niệm quản lý nhà nước 11 luan an Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó có quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tương đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”.
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thế quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định.
- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. - Khách thể quản lý: là mục đích mà hoạt động quản lý hướng tới. Bất kỳ hoạt động quản lý nào cũng là những hoạt động tác động, điều chỉnh hành vi của đối tượng quản lý để hướng tới việc xác lập, duy trì trật tự quản lý do Nhà nước đặt ra. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp quản lý thích hợp.
Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: 12 luan an Theo nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng nhà nước đối với xã hội. + Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp).
Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm QLNN hiểu theo nghĩa hẹp tức là QLNN mang tính chấp hành và điều hành trên cơ sở pháp luật của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực hành pháp. * Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với mọi lĩnh vực, mọi hoạt động trong xã hội. Không có lĩnh vực, hoạt động nào không chịu sự quản lý của nhà nước.
Quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội là một nhu cầu khách quan, giúp cho Nhà nước thực hiện các chức năng và quyền lực của mình. Thi hành TGTG là hoạt động tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc ANQG, bảo đảm TTATXH Thi hành TGTG có vai trò quan trọng trong hoạt động TTHS.