CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Những vấn đề lý luận về biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Để có thể đưa ra khái niệm biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trước hết cần phải làm rõ người dưới 18 tuổi được hiểu như thế nào, các đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng này, từ đó đưa ra khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội.
Theo Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có nêu: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn.” Theo đó, độ tuổi trẻ em được xác định trong Công ước 1989 chỉ mang tính định hướng trên cơ sở tôn trọng tuyệt đối hệ thống pháp luật của các quốc gia thành viên dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em cũng như tập quán xã hội ở mỗi quốc gia đó. Như vậy, độ tuổi của người chưa thành niên được xác định không giống nhau tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia thành viên. Nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản pháp luật ở nước ta quy định thống nhất độ tuổi của người chưa thành Luan van niên là dưới 18 tuổi, riêng Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Có thể thấy rằng, mỗi văn bản pháp luật có mỗi phạm vi điều chỉnh riêng phù hợp với từng chế định pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể nên có những quy định khác nhau khi xác định độ tuổi được coi là người chưa thành niên, trẻ em.
BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) ra đời đã sửa đổi cụm từ “người chưa thành niên” theo quy định của BLHS năm 1999 thành “người dưới 18 tuổi” nhưng vẫn giữ nguyên độ tuổi góp phần làm rõ quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Có thể thấy, khái niệm người dưới 18 tuổi tương đồng với khái niệm người chưa thành niên, trên cơ sở căn cứ vào sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như đặc điểm tâm sinh lý, có thể hiểu người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Ở độ tuổi này, người dưới 18 tuổi đang trong quá trình hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý nên họ thường tò mò, sôi nổi, muốn thể hiện là người lớn, nhưng lại dễ nổi giận, cáu ghét, không kiềm chế được hành vi, cảm xúc,… nên dễ bị chi phối bởi những tác động bên ngoài, họ tự cho mình quyền tự do nhưng đôi khi lại tự do hành động một cách tùy tiện và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn. Sự tùy tiện vô kỷ luật này là hành vi vi phạm pháp luật và có thể dẫn đến sự mất tự do của họ.
Từ đặc điểm về lứa tuổi, các đặc trưng nêu trên của người dưới 18 tuổi nên pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới đều có những chế định pháp luật, đường lối, chính sách phù hợp để giáo dục, xử lý đối với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật cũng như bảo vệ, phòng ngừa các hành vi xâm phạm người dưới 18 tuổi. Luan van Ở Việt Nam, thuật ngữ người dưới 18 tuổi phạm tội được đề cập chủ yếu trong BLHS và BLTTHS; trong đó, BLHS dành Chương XII và BLTTHS dành Chương XXVIII để quy định riêng chính sách hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, BLHS và BLTTHS không đưa ra một định nghĩa chính thức về người dưới 18 tuổi phạm tội.TSKH Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng thì người chưa thành niên phạm tội được hiểu là “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [6, tr.
Xét toàn cục, quan điểm này chứa đựng nhiều hạt nhân hợp lý khi phân tích tương đối bao quát các dấu hiệu đặc trưng về người chưa thành niên phạm tội như: Độ tuổi, năng lực TNHS, mức độ lỗi, hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Tuy nhiên, khái niệm này không còn phù hợp với sự thay đổi, bổ sung của BLHS 2015 khi các chế định hình sự được quy định đều liên quan đến thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội”.S Đinh Văn Quế, người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm” [24, tr. Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi, bổ sung của BLHS năm 2015 khi sửa đổi cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” thành “người dưới 18 tuổi phạm tội” cũng như phù hợp với các chế định hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định trong BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật liên quan. Tuy nhiên, khái niệm này còn quy định chung chung, chưa nêu rõ các dấu hiệu đặc trưng về người dưới 18 tuổi phạm tội.
Do đó, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học nêu trên, tác giả cho rằng, người dưới 18 tuổi phạm tội có thể định nghĩa như sau: Người dưới 18 Luan van tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do bị hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm với lỗi cố ý hoặc vô ý. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh hệ thống các hình phạt thì pháp luật hình sự nước ta còn quy định một biện pháp cưỡng chế hình sự khác ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt đó là biện pháp tư pháp. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội: “Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được Bộ luật hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt” [41, tr. Tác giả cho rằng, quan điểm này còn quy định chung chung, chưa phản ánh đầy đủ các dấu hiệu của biện pháp tư pháp, chẳng hạn như bản chất của biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế hình sự.
Ngoài ra, quan điểm trên ghi nhận đối tượng bị áp dụng là người có hành vi nguy hiểm cho xã hội là không chính xác. Bởi chỉ những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm thì mới có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp. Còn đối với những người cũng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm thì không được áp dụng biện pháp tư pháp theo quy định của BLHS. Ngoài ra, giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung của trường Đại học kiểm sát Hà Nội, các biện pháp tư pháp được hiểu là “các biện pháp cưỡng chế hình sự do Bộ luật hình sự quy định, được áp dụng đối với người phạm tội có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt” [12, tr.
Quan điểm này là phù hợp nhưng chưa đầy đủ. Do đó, để đảm bảo phản ánh đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của biện pháp tư pháp, tác giả cho rằng cần bổ thêm vào định nghĩa này thẩm quyền áp dụng các biện pháp tư pháp. Luan van Theo GS.TSKH Lê Cảm thì “biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định và được các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế hình phạt” [5, tr. Có thể thấy, quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm đã định nghĩa cụ thể biện pháp tư pháp với các dấu hiệu đặc trưng mà nhìn vào đó, người đọc có thể hiểu rõ biện pháp tư pháp là gì và phân biệt được biện pháp tư pháp với hình phạt.
Do đó, tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Như vậy, có thể thấy, so với hình phạt thì biện pháp tư pháp là một chế tài hình sự ít nghiêm khắc hơn, chỉ mang tính hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt chứ không mang tính trừng trị như hình phạt. Vậy, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là gì? Hiện nay, BLHS cũng như các văn bản dưới luật hướng dẫn việc thi hành BLHS chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. BLHS hiện hành quy định nguyên tắc chủ đạo khi xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ và nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội chứ không nhằm mục đích trừng trị.
Khi xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải ưu tiên miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 với tính chất là biện pháp giáo dục, phòng ngừa thay thế cho hình phạt.