Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Đến nay trong nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài Luận án ở nhiều góc độ khác nhau, có thể phân chia thành một số nhóm như sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự của VKSND cấp cao là một dạng hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, do vậy nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về QCT, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT. Liên quan đến những vấn đề lý luận chung về QCT, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp có thể kể đến một số công trình sau đây: * Liên quan đến QCT, THQCT: Trong nhóm liên quan đến QCT, THQCT đáng chú ý có các công trình như Luận án tiến sỹ luật học “QCT ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa (Viện nhà nước và pháp luật 2002), sách chuyên khảo “THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của tác giả Lê Hữu Thể (Nxb Tư pháp, 2005), Luận án tiến sỹ luật học “THQCT trong TTHS từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” của tác giả Tôn Thiện Phương (Học viện khoa học xã hội năm 2017).
Các công trình đã nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc những vấn đề lý luận về nguồn gốc, khái niệm, phạm vi, nội dung QCT, THQCT. Các giả cũng đã rất cố gắng phân biệt làm rõ các khái niệm QCT và THQCT, mối quan hệ giữa QCT và THQCT – một mối quan hệ biện chứng giữa quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực ấy; mối quan hệ giữa THQCT và KSXX là 2 chức năng của VKS, tuy độc lập nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết quả nghiên cứu cũng làm rõ nội dung THQCT trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó có 6 luan an giai đoạn xét xử. Các công trình đã cung cấp kiến thức nền tảng cơ bản, có giá trị tham khảo rất tốt khi nghiên cứu về đề tài Luận án.
Ngoài ra, góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về QCT có khá nhiều bài viết nêu lên những quan niệm khác nhau về QCT, thực tiễn THQCT ở nước ta hiện nay như: bài viết "Cơ quan THQCT trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay" của TS Đỗ Văn Đương in trên Tạp chí Nghiên cứ lập pháp số 07/ 2006; “QCT và tổ chức thực hiện QCT trong nhà nước pháp quyền” của TS Nguyễn Minh Đức in trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1, 2/ 2012; “VKS với hai chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp và sự lựa chọn thích hợp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Quảng trên Tạp chí Kiểm sát số 13/2012; “Công tố và THQCT trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần Đình Nhã trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21/2014;. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây còn có nhiều công trình nghiên cứu về QCT, THQCT ở những góc độ khác, như Luận án tiến sỹ luật học “Các chức năng trong TTHS Việt Nam: những vần đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện khoa học xã hội năm 2012). Trong luận án của mình tác giả nhìn nhận buộc tội (công tố) cùng với bào chữa, xét xử được xác định là 3 chức năng cơ bản của TTHS. Các chức năng này có vị trí, vai trò, bản chất, đặc trưng khác nhau, có sự độc lập với nhau, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau, đảm bảo sự vận hành của TTHS.
Theo tác giả dù dưới hình thức tố tụng nào (tố cáo, thẩm vấn, tranh tụng,.) thì ba chức năng này vẫn luôn xuất hiện và tồn tại, chúng chỉ khác trong cách thể hiện mà thôi. Những kết quả nghiên cứu trên mang đến những nhìn nhận đầy đủ, toàn diện hơn về QCT, khi đặt QCT trong mối tương tác với các chức năng tố tụng khác. Tương tự như vậy, gần đây nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu THQCT theo những cách thức mới, không chỉ là những hoạt động độc lập, mà cách thức THQCT, địa vị pháp lý của KSV nói riêng được đặt trong trong mối liên hệ với cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự nói chung, trong mối quan hệ với 7 luan an các chủ thể khác trong quá trình tố tụng., như Luận án tiến sỹ luật học “Mô hình TTHS Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng” của tác giả Nguyễn Thị Thủy (2014). Trong luận án của mình tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS; những tiêu chí khoa học về phân loại các mô hình TTHS; làm rõ lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm, ưu thế, hạn chế của các mô hình TTHS điển hình trên thế giới và xu thế phát triển chung của các mô hình TTHS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chức năng công tố ở các mô hình tố tụng vận hành theo những cách thức khác nhau, phù hợp với mô hình tố tụng; ở chiều ngược lại, chức năng công tố là một thành tố của mô hình tố tụng, cách thức vận hành của nó cũng tác động đến cách thức hoạt động của các thành tố khác trong mô hình tố tụng đó. Các vấn đề trên còn được nhiều tác giả khác quan tâm, thông qua các nghiên cứu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng trong các mô hình khác nhau, trong đó có việc thực hiện chức năng buộc tội, thực tiễn ở nước ta hiện nay và các đề xuất hoàn thiện như: tác giả Nguyễn Trương Tín với bài viết “Một số vấn đề lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự 2003 liên quan đến chức năng buộc tội” in trên Tập chí Nhà nước Pháp luật 8/2009; tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tung hình sự ở Việt Nam” trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23, 24/2009; TS Lê Hữu Thể, Nguyễn Thị Thuỷ với “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18/2010; tác giả Nguyễn Duy Giảng với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam” in trên Tạp chí Kiểm sát 2/2011; tác giả Nguyễn Ngọc Chí với bài viết “Cơ sở lựa chọn mô hình Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề Các cơ quan Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền 2011. * Liên quan đến kiểm sát hoạt động tư pháp: 8 luan an KSXX là một dạng hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp, những vấn đề này đã được đặt ra nghiên cứu trong khá nhiều công trình, như Đề tài khoa học cấp bộ “Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực của nhà nước và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS ở nước ta” của VKSND tối cao (2010). Công trình đã nghiên cứu, làm sáng tỏ về quyền lực nhà nước, sự tất yếu cần phải giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Sự hiện diện của VKS với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải là sản phẩm của một chế độ xã hội theo kiểu quốc gia XHCN hay quốc gia TBCN, mà bởi đặc điểm lịch sử, tính đặc thù của văn hóa, của truyền thống v.v… Đối với công tác KSXX, thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân, của những người tham gia tố tụng, VKS có vai trò quan trọng trong kiểm tra, giám sát quyền lực tư pháp, có một vai trò và vị trí mà các thiết chế khác không thay thế được. Đề tài khoa học cấp bộ “VKS ở các nước chuyển đổi và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình cải cách tư pháp” của VKSND tối cao (2012) cho thấy, những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội của các nước chuyển đổi sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 có ảnh hưởng sâu sắc đến mô hình VKS trên tất cả các phương diện vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,. Sau chuyển đổi, bên cạnh chức năng công tố, VKS ở đa số các nước này vẫn tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Qua nghiên cứu, Đề tài cho rằng ở nước ta trong những năm tới cần khẳng định và duy trì hai chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND.
Trong Đề án cấp bộ “Nghiên cứu về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKSND tối cao (2013) các tác giả đã đi sâu làm rõ bản chất, nội dung và đặc điểm của quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, chủ thể các hoạt động tư pháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc và thẩm quyền và nhiệm vụ, địa vị pháp lý của các cơ quan tư pháp ở các nước là rất đa dạng. Ở nhiều nước hình thức giám sát hoạt động xét xử phổ biến thông qua tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm thẩm phán. Tuy vậy ở nước ta cần thiết 9 luan an duy trì chức năng “kiểm sát các hoạt động tư pháp” nói chung, KSXX nói riêng, nhằm bảo đảm để các hoạt động của các chủ thể diễn ra trong giai đoạn này phù hợp với pháp luật, tuân theo pháp luật.
Việc nghiên cứu về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, KSXX nói riêng trong những năm gần đây tiếp tục có những phát triển mới, đi sâu, cụ thể hơn. Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm sát các hoạt động tư pháp ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp – Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật” của VKSND tối cao (2014) đã tập trung làm rõ khái niệm, khách thể, đối tượng, phạm vi của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.