Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA TỘI GIẾT NGƯỜI 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra tội giết người 1. Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam Theo quy định pháp luật hiện hành, khái niệm về tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.” Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 27/11/2015 (hiện đang lùi hiệu lực thi hành để sửa đổi, bổ sung; chỉ áp dụng các quy định mới theo hướng có lợi cho người phạm tội) với những nội dung mới, trong đó có khái niệm về tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8, như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp 7 pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” Về cơ bản, khái niệm về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 được kế thừa toàn bộ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm khác nhau duy nhất giữa hai điều luật viện dẫn nêu trên đó là chủ thể của tội phạm.
Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ coi “cá nhân” mới là chủ thể của tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung “pháp nhân thương mại” cũng là chủ thể của tội phạm. Đây là một trong các nội dung sửa đổi quan trọng nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành, kể cả Bộ luật Hình sự năm 2015, đều không có mô tả cụ thể khái niệm hành vi “giết người”. Nhưng theo nhận thức chung trong khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật, hành vi giết người được hiểu là“hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật bằng mọi hình thức”.
Các đặc điểm, dấu hiệu nhận biết tội phạm giết người cơ bản như sau: - Về khách thể Tội phạm giết người xâm hại đến quyền cơ bản nhất của con người đó là quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng. - Về chủ thể Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự (có năng lực hành vi đầy đủ và đạt độ tuổi luật định) đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ là chủ thể của tội giết người. Pháp nhân thương mại, chủ thể mới của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, không được coi là chủ thể của tội giết người.
8 - Về mặt chủ quan Tội phạm giết người luôn luôn được thực hiện với lỗi cố ý, vì từ "giết" đã bao hàm cả sự cố ý. Do đó, nếu có trường hợp nào tước đoạt tính mạng người khác không phải do cố ý thì không phải là giết người. Lỗi của người phạm tội có thể là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu gây hậu quả chết người và mong muốn hậu quả xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức hành động của mình có thể gây hậu quả chết người, mặc dù không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Sự hình thành ý thức của người có hành vi giết người được biểu hiện khác nhau: + Dạng biểu hiện thứ nhất là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng người khác, người phạm tội thấy trước được hậu quả chết người tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó phát sinh. Loại biểu hiện này rõ nét. Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường được biểu hiện bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện), điều tra theo dõi mọi hoạt động của người định giết, chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn để che giấu tội phạm.
còn gọi là cố ý có dự mưu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp trước khi hành động, người phạm tội không có thời gian chuẩn bị nhưng họ vẫn thấy trước được hậu quả tất yếu xảy ra và cũng mong muốn cho hậu quả phát sinh, trường hợp này gọi là cố ý đột xuất. + Dạng biểu hiện thứ hai là trước khi có hành vi nguy hiểm đến tính mạng người khác, người phạm tội chỉ nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra chứ không chắc chắn nhất định xảy ra vì người phạm tội chưa tin vào hành vi của mình nhất định sẽ gây ra hậu quả chết người. Bản thân người 9 phạm tội cũng mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng họ lại không tin một cách chắc chắn rằng hậu quả ắt xảy ra.
+ Dạng biểu hiện thứ ba là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội cũng chỉ thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Người phạm tội giết người đều có chung một mục đích là tước đoạt tính mạng con người, nhưng động cơ thì khác nhau. Động cơ không phải là yếu tố định tội giết người, nhưng trong một số trường hợp nó là yếu tố định khung hình phạt. - Về mặt khách quan Hành vi giết người là hành vi “tước đoạt tính mạng của người khác”.
Nghĩa là, hành vi tội phạm phải gây hậu quả hoặc có khả năng gây ra hậu quả làm chết người khác, chấm dứt sự sống của nạn nhân về mặt sinh học, người bị giết phải là người còn sống. Nếu một người đã chết, thì mọi hành vi xâm phạm đến xác chết đó không phải là hành vi giết người, nhưng giết một người sắp chết vẫn là giết người. Giết một đứa trẻ mới ra đời cũng là giết người, nhưng phá thai, dù cái thai đó ở tháng thứ mấy cũng không gọi là giết người, vì vậy giết một phụ nữ đang có thai không phải là giết nhiều người. Trường hợp người phạm tội tưởng nhầm xác chết là người đang còn sống mà có những hành vi như bắn, đâm, chém.
với ý thức giết thì vẫn phạm tội giết người. Khoa học luật hình sự gọi là sai lầm về đối tượng. Nếu một người tự chấm dứt sự sống của mình (tự tử) thì hành vi đó không phải là tội phạm. Nhưng nếu một người trợ giúp người khác tự tử theo chính nguyện vọng, yêu cầu của nạn nhân thì về nguyên tắc, hành vi đó vẫn được xem là tội phạm.
Hành vi giết người phải là hành vi“trái pháp luật”. Do đó, hành vi cố ý làm chết người khác theo quy định pháp luật hoặc được pháp luật cho phép 10 thực hiện như hành vi thi hành án tử hình hoặc hành vi phòng vệ chính đáng thì không phải là tội phạm. Hành vi khách quan của tội giết người có thể là hành vi hành động hoặc không hành động. Hành vi giết người còn có thể thực hiện thông qua hành động của người không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất nên tội phạm chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra. Tuy nhiên, hậu quả chết người xảy ra lại không phải là yếu tố bắt buộc trong việc định tội mà có ý nghĩa xác định giai đoạn thực hiện tội phạm. Nếu hậu quả chết người không xảy ra thì lúc này việc xác định tội phạm cần phải đánh giá, phân loại dựa trên yếu tố lỗi: + Nếu lỗi cố ý trực tiếp (mong muốn nạn nhân chết) nhưng hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ thực hiện hành vi thì hành vi phạm tội được coi là tội giết người chưa đạt. Ví dụ 1: A đang thực hiện hành vi dùng dao đâm, chém B thì bị người dân phát hiện, ngăn cản, bắt giữ thì hành vi phạm tội của A được coi là tội giết người chưa đạt chưa hoàn thành.
Ví dụ 2: Sau khi thực hiện hành vi dùng dao đâm, chém B, A tưởng rằng B đã chết nên bỏ đi nhưng sau đó B được người khác phát hiện và đưa đi cấp cứu kịp thời nên thoát chết thì hành vi phạm tội của A được coi là tội giết người chưa đạt đã hoàn thành. Trường hợp hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân chủ quan từ kẻ thực hiện hành vi thì thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội. Ví dụ: Đã thực hiện việc đâm, chém nạn nhân nhưng không thực hiện hành vi đến cùng (đến khi nạn nhân chết) mà dừng lại, đưa nạn nhân đi cấp cứu nên nạn nhân thoát chết thì không cấu thành tội giết người mà có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích (tùy thuộc tỷ lệ thương tật, tổn hại sức khỏe của nạn nhân). 11 + Nếu lỗi cố ý gián tiếp (không mong muốn nạn nhân chết nhưng bất chấp hậu quả) thì cũng có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích (tùy thuộc tỷ lệ thương tật, tổn hại sức khỏe của nạn nhân).