Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm vị thành niên của cộng đồng dân cư. Chương 3: Tình hình tội phạm vị thành niên và những nguy cơ phạm tội của vị thành niên ở quận Cầu Giấy. Chương 4: Thực trạng vai trò phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm VTN tại quận Cầu Giấy của cộng đồng dân cư.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về tội phạm VTN và vai trò của cộng đồng dân cư trong phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm VTN ở nước ngoài 1. Cơ sở triết học về hành vi tội phạm Mỗi cách giải thích về hành vi, cho dù đó là hành vi truyền thống hay lệch chuẩn, đều dựa trên một số giả định ngầm về liên hệ giữa cá nhân và thế giới mà họ hoạt động. Có nhiều tranh cãi về các nguyên nhân của tội phạm và làm thế nào để đối phó với người phạm tội.
Mỗi khoa học đều có trường phái tư tưởng của mình. Trong xã hội học tội phạm có hai trường phái tư tưởng chủ yếu là Cổ Điển và Thực chứng. Trường phái cổ điển (Classical School) có nguồn gốc từ quan điểm của các học giả như Cesare Bonesana (1738 - 1794), Jeremy Bentham (1748 - 1832)… Quan điểm trường phái cổ điển đặt niềm tin về con người và các chức năng của xã hội trong việc đối phó với sự lệch lạc, cho rằng con người có được ý chí tự do, việc lựa chọn hành động là kết quả của việc tính toán được mất của hành vi, cá nhân thực hiện một quyết định có ý thức để thực hiện tội phạm dựa trên những mong đợi của một kết quả lợi ích. Trường phái cổ điển tìm cách ngăn chặn và răn đe tội phạm bởi sự trừng phạt người phạm tội vì hành vi phạm tội.
Cá nhân nên tránh phạm tội bằng cách biết nỗi đau, hậu quả của việc bị bắt và trừng phạt. Trái ngược với trường phái cổ điển, trường phái thực chứng (Positivistic School) cho rằng hành vi cá nhân được xác định bởi các yếu tố kiểm soát bên ngoài cá nhân. Do đó, việc thay đổi hành vi cá nhân không thể chỉ thông qua việc nâng cao mức độ trừng phạt, thay vào đó, việc thay đổi hành vi có thể được thực hiện bằng cách xác định và loại bỏ các yếu tố bên ngoài đang gây ảnh hưởng đến những hành động của cá nhân. Trường phái thực chứng từ thế kỷ 18 đã trở thành một trào lưu tư tưởng chủ đạo, là cơ sở của phương pháp luận và những tiến bộ khoa học trong tâm lý học và xã hội học.
Cả hai trường phái này đều ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa tội phạm hiện nay. Trong khi chế độ tư pháp VTN hiện nay chú trọng đến các nhân tố bên ngoài gây ra tội phạm đồng thời tìm kiếm phương pháp để điều chỉnh các sai lệch 16 dẫn đến hành vi phạm tội của VTN thì hệ thống hình sự vẫn chú trọng đến các biện pháp trừng phạt. Các nghiên cứu về tội phạm VTN ở cấp độ cá nhân Giải thích về nguyên nhân dẫn đến VTN phạm tội thông thường được phân thành 03 cấp độ khác nhau: cá nhân, xã hội vi mô và xã hội vĩ mô. Giải thích về sự lệch lạc ở cấp độ cá nhân chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ sinh học và tâm lý học.
Các nghiên cứu sinh học Cách giải thích theo quan điểm sinh học là một trong những lý thuyết sớm nhất về tội phạm. Những tiến bộ về y tế, đặc biệt là trong thế kỷ XVIII đã hỗ trợ cho việc giải thích nguyên nhân hành vi lệch chuẩn cá nhân dựa trên đặc điểm sinh học. Giả định cơ bản được thực hiện bởi các nhà lý thuyết sinh học là nếu đặc điểm sinh học của cá nhân chi phối khả năng thể chất của họ thì những đặc điểm này cũng có thể góp phần chi phối vào việc thực hiện các loại hành vi ở con người, trong đó có các hành vi phạm tội. Người phạm tội có các đặc điểm sinh học đặc trưng mà có thể quan sát được.
Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu thừa nhận rằng, các nhà tội phạm học trường phái này chưa làm rõ được cơ chế tác động của các nhân tố sinh học dẫn tới hành vi phạm tội. * Các đặc điểm hình thể có thể quan sát được của người phạm tội. Cesare Lombroso, người được coi là cha đẻ của tội phạm học hiện đại, đã dựa trên quan điểm của Charles Darwin về sự tiến hóa, cho rằng tội phạm là do sự lệch lạc về tiến hóa, những cá nhân này mang các đặc điểm của tổ tiên, gọi là hiện tượng “lại giống” và không có được thể chất hoặc tinh thần tiến hóa như phần còn lại của xã hội, từ đó ông nhận định rằng nguồn gốc của nhiều tội ác là bẩm sinh và nhiều cá nhân được sinh ra với những khuynh hướng sai lệch, bất kể nỗ lực giáo dục của cha mẹ để cải tạo chúng [92]. Nhà tội phạm học Gina Lombroso Ferrero (1911) khi quan sát hành vi phạm tội ở trẻ em cũng cho rằng hành vi này là do những sai lệch của tâm lý và thể chất kém phát triển con người.
Theo tác giả bản năng nguyên thủy phổ biến trong hầu hết mọi trẻ em, bên cạnh đó, Lombroso Ferrero nhấn mạnh hậu quả của các chấn thương do tai nạn và bị bỏ rơi mà trẻ trải nghiệm trong thời thơ ấu có thể tổn hại 17 tạm thời hoặc vĩnh viễn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ. Bà kết luận số trẻ em có các biểu hiện như: dễ tức giận, mong muốn báo thù, sự biếng nhác, người tăng động và thiếu sự đồng cảm… dễ dẫn đến tội phạm [77]. Nhà tội phạm học Garofalo cũng cho rằng một tên tội phạm sinh ra đã có thiên hướng "bạo lực và đổ máu", thiên hướng này được biểu hiện ở các đặc điểm vật lý, hình thể và sinh lý khác của trẻ. Ông đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của các mô tả về "bộ mặt điển hình" với đặc trưng như trán dô, mày cao, cằm chìa… [75].
Kretschmer và Sheldon (1921) cũng tin rằng đặc điểm sinh học – vật lý của một người là đủ để quan sát về đặc điểm tâm lý của họ (đặc điểm tính cách, tính khí, khả năng, cá tính của một người), ví dụ đặc điểm cao gầy là phổ biến nhất ở tội phạm, các cá nhân cao gầy có nhiều khả năng để thực hiện hành vi phạm tội hơn là thanh niên khác [122]… Hỗ trợ cho các mối quan hệ giữa hình thể và phạm pháp cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Sheldon Glueck và Eleanor Glueck (1956) và Juan Cortes (1972). Tuy nhiên vấn đề cơ chế sinh học tác động ra sao tới việc dẫn tới hành vi phạm pháp vẫn chưa được các nhà tội phạm học theo quan điểm sinh học làm rõ, các cơ chế hoạt động cụ thể của các đặc tính di truyền (như nguyên nhân của hành vi lệch lạc) vẫn chưa được giải đáp. * Các nghiên cứu về Gen và di truyền Giải thích sinh học thường nhấn mạnh vai trò yếu tố di truyền (gen) đến hành vi. Hai phương pháp cơ bản để kiểm tra giả thuyết này là so sánh hành vi của các cặp song sinh (cả các cặp song sinh cùng trứng – MZ và song sinh khác trứng DZ) và so sánh hành vi của con cái với cha mẹ sinh học của họ.
Các nghiên cứu thấy rằng hành vi tương tự giữa những người song sinh cùng trứng cao hơn những người song sinh khác trứng. Nghiên cứu của Newman và các cộng sự (1937), cho thấy sự tương tự về mặt hành vi giữa các cặp MZ cao gấp đôi DZ. Tương tự như vậy, nghiên cứu của Christiansen (1974) sử dụng đăng ký của 6.000 cặp song sinh ở Đan Mạch, phát hiện ra hành vi phạm tội của các cặp song sinh MZ cao gấp 3 lần các đôi DZ khi hồ sơ tội phạm đã được kiểm tra. Nghiên cứu của Hutchings và Mednick (1977) sử dụng một mẫu lớn về tội phạm và bố mẹ, cho thấy có 49% thanh niên tội 18 phạm có cha là tội phạm hình sự, trong khi chỉ có 31% có người cha không phải là tội phạm [97]… Một ví dụ thứ hai là vấn đề hội chứng thiếu chú ý/rối loạn tăng động (ADHD), trẻ em mắc chứng rối loạn này là liên tục gây rối, hành động bốc đồng, có thể dễ dàng thất vọng, dễ thay đổi tâm trạng và hành động không thích hợp (Ward, 2000).
Anderson (1997) ghi nhận có một cơ sở di truyền mạnh mẽ cho ADHD như đã chứng minh trong một số nghiên cứu. Các nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố di truyền có ảnh hưởng tới hành động của các cá nhân. Tiến xa hơn Han Brunnen (1993) còn cho rằng hành vi sai lệch là do nhiễm sắc thể, cụ thể do những lỗi cấu trúc ở nhiễm sắc thể X, đàn ông thường phạm tội nhiều hơn đàn bà là do chỉ có một nhiễm sắc thể X. * Các nghiên cứu về các yếu tố sinh học khác Các yếu tố sinh học như hormone, hệ thần kinh hay trao đổi chất cũng đã được nghiên cứu để tìm kiếm những mối liên hệ với các hành vi tội phạm ở VTN.
Ví dụ nghiên cứu về testosterone cho thấy nó làm con người trờ nên hung hăng hơn. Tuổi VTN có thể do lượng tiết tố tăng đột biến là nguyên nhân gây ra sự mất kiểm soát hành vi nên dễ bột phát các hành vi phạm pháp. Nghiên cứu về trao đổi chất cho thấy các chất kích thích như bia rượu, ma túy… gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh và gây mất kiểm soát dẫn đến hành vi phạm tội. Xu hướng gần đây trong việc tìm kiếm những giải thích sinh học của các hành vi là phương pháp tiếp cận sinh học xã hội – biosociology, đề cập đến ý tưởng rằng đặc điểm sinh học của sinh vật và môi trường xung quanh là liên quan mật thiết.
Các môi trường đóng một vai trò trong việc hình thành các sinh vật và sinh vật thông qua các hoạt động hàng ngày của mình để thích ứng môi trường. Trong điều kiện của hành vi lệch lạc, quan điểm cũ cho rằng lệch lạc là một kết quả trực tiếp của tình trạng sinh học là không còn đứng vững được. Thay vào đó, sinh học xã hội cho thấy lệch lạc xảy ra khi điều kiện sinh học trùng hợp với các yếu tố xã hội hay môi trường thích hợp. Những lời giải thích hành vi của sinh học - xã hội học hiện đại chứa cả yếu tố sinh học và xã hội học.