chương 1 nghiên cứu tình hình của tội phạm sử dung mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội (đơn vị không gian) từ năm 2013 đến năm 2017 (đơn vị thời gian). Như đã nêu ở phan ly do chọn đề tài, do có thuộc tính pháp lý, những phân tích về tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện trên cơ sở tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bởi trong giai đoạn 2013-2017, BLHS năm 1999 đang có hiệu lực nên các thống kê chính thức cũng căn cu theo quy định của BLHS năm 1999. BLHS năm 2015 có hiệu lực từ 01-01-2018, hiện nay tội phạm này được quy định tại Điều 290 - Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Thực trạng của tội sử dung mang máy tính,mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 “Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra trong don vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và tính chat” [19, tr. Thực trạng về mức độ của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiêm đoạt tài sản ở thành pho Hà Nội giai đoạn 2013-2017 Khi đánh giá thực trạng về mức độ của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cần phải đánh giá được mức độ của tội phạm rõ và mức độ tội phạm ấn của tội phạm này. Đề đánh giá được mức độ của tội phạm rõ và tội phạm ân, đưa ra kết luận về tội phạm này ở thành phố Hà Nội, tác giả đã sử dụng số liệu của Vụ tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Hà Nội. Đồng thời với việc thu thập và sử dụng số liệu thống kê tong thé nêu trên, tac giả còn sử dụng các số liệu được thống kê từ 65 bản án HSST về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là toàn bộ số vụ phạm tội được xét xử sơ thấm về tội phạm này ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017.
Tội phạm rõ: “Tội phạm rõ là tội phạm đã được xu ly về hình sự và được đưa vào thống kê toi phạm ”[19, tr. Theo đó, với số liệu thống kê chính thức từ TANDTC, bỏ qua những sai số về thống kê không thê tránh khỏi thì đây chính là căn cứ quan trọng nhất để đưa ra kết luận tương đối sát thực về số tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội. Từ năm 2013 đến hết năm 2017, Tòa án các cấp ở thành phố Hà Nội đã xét xử 65 vụ với 183 bị cáo về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Trung bình mỗi năm có khoảng 13 vụ với 37 bị cáo bị xét xử sơ thâm hình sự về tội này.
Cụ thể, số vụ và số bị cáo phạm tội này bị xét xử sơ thâm hàng năm ở địa bàn thành phố Hà Nội trên phạm vi thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến 2017 được thé hiện ở bảng 1. Số vụ và số người phạm tội sử dung mạng máy tinh, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai doan 2013-2017 Nam 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 | Tổng | TB Số vụ 6 13 l6 18 12 65 13 Số người phạm tội | 13 56 43 39 32 183 37 Nguồn: TANDTC Biểu đồ 1. SỐ vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai doan 2013-2017 200 183 150 100 ø Số vụ 50 = Số người phạm tội 0 Giai đoạn 2013-2017 Cũng trong giai đoạn này, Tòa án nhân dân các cấp ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc đã xét xử sơ thẩm lần lượt là 58 vụ với 141 bị cáo và 235 vụ với 533 bị cáo về tội này. Trung bình hang năm, có khoảng 12 vụ với 28 bị cáo bị xét xử sơ thâm ở thành phố Hồ Chi Minh và 47 vụ với 107 bị cáo bị xét xử sơ thâm trên toàn quốc về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Như vay, So VỚI cả nước, trong giai đoạn 2013- 2017, số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Hà Nội bằng khoảng 1/3 về số vụ và 1/3 số người phạm tdi so với cả nước, cụ thể thể hiện ở bang 1. So sánh số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hỗ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 x NIA: Thành phố ` k " Hà Nội Hồ Chí Minh Toàn quôc Giai đoạn | Sd vu 2013-2017 Sốngười | .„ | Sốngmôi SUSI | Số vụ | s;. | Số người SP | Số vụ sa. phạm lội phạm lội phạm lội 65 183 58 141 235 533 TB 13 37 12 28 47 107 Nguôn: TANDTC Biểu dé 1.
So sánh số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mang viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chi Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 600 533 500 400 k = Sô vụ 300 200 se 14] = Số người phạm tội > = - HàNội Thành phố Hồ Chi Minh Toàn quốc Bang 1. So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viên thông, phương tiện `. Giai đoạn 2013-2017 diện tứ thực hiện hành vi Cae đội prem enung chiém doat tai san Tong số TB Tổng số TB Số vụ 65 13 32.468 Số người phạm tội 183 37 54.959 Nguồn: TANDTC Biểu đồ 1. So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thấm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 60000 54795 | _———— 50000 40000 = Sô vu 30000 20000 = Số người 10000 65 183 phạm tội 0 Tội phạm sử dụng mang máy Các tội phạm chung tính.
chiêm đoạt tài sản Ngoài ra, cũng trong giai đoạn này, ở thành phố Hà Nội, Tòa án các cấp đã xét xử tổng số 32.342 vụ án hình sự các loại và 54. Trung bình mỗi năm xét xử 6. Nghĩa là số vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mỗi năm xét xử chiếm khoảng 0,2% tông số vụ án, số người phạm tội này hàng năm chiếm tỷ lệ 0,33% tổng số người phạm tội bị xét xử. Cụ thé, thể hiện ở bảng 1.
Thêm vào đó, để đánh giá thực trạng về mức độ của tội phạm rõ, cần xác định được chỉ số tội phạm và chỉ sỐ người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản phản ánh mức độ phô biến của tội phạm này trong dân cư. Chi số tội phạm va chỉ số người phạm tội (tính trên 1.000 dân) được tính như sau: Số vụ (hoặc số người phạm tội) của từng năm nhân với 1.000 chia cho số dân ở Hà Nội trong cùng một năm tương ứng. Kết quả thé hiện ở bảng 1.
Bảng nay cho thấy chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiém đoạt tài sản trung bình ở Hà Nội giai đoạn 2013-2017 trung bình lần lượt là 2 và 5. Nghĩa là cứ 1.000 người ở Hà Nội thì có 2 vụ và 5 người thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tir thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 (tính trên 1.000 dân) š Dân số Hà Nội £ Số người Chỉ số Chỉ số người Năm ` ` SỐ vụ a x a (nghìn người) phạm lội toi phạm phạm toi 2013 6.654,8 12 32 2 4 TB 2 5 Nguôn: Tổng cục thong kê và TANDTC 10 So sánh với chỉ số tội phạm va chỉ số người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc dé thấy rõ hơn mức độ tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc cũng được tính tương tự và kết qua thê hiện ở bảng 1.
Theo đó, trong cùng thời gian này ở thành phố Hỗ Chí Minh và toàn quốc chi số tội phạm và chỉ số người phạm tội này lần lượt là 1; 3 và 1; 1. Nghia là, cứ 1.000 người thi có 1 vụ và 3 người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh; ở toàn quốc là 1 vụ và 1 người thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.