Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ CUA CÁC BIEN PHAP NGAN CHAN TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1. KHÁI NIEM BIEN PHAP NGAN CHAN TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CHÚNG 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn Chế định các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định quan trọng của luật tố tụng hình sự. Vì vậy, việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của tố tụng hình sự để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kip thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, mặc dù chưa có quy phạm định nghĩa về khái niệm biện pháp ngăn chặn, nhưng các biện pháp ngăn chặn đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự nước ta ngay từ sau Cách mạng tháng Tám. Trong Sắc lệnh số 13 ngày 14/1/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 vẻ tổ chức bộ máy tư pháp, công an, Sắc lệnh số 85 ngày 7/11/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đều có quy định về thẩm quyền bắt người; đặc biệt Sắc lệnh số 85 quy định cụ thể "quyền ký lệnh tạm giam bị cáo thuộc về ông giám đốc ty liêm phóng” và "tư pháp công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các Tòa án xét xử”. Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, Sac lệnh số 002-SL ngày 18/6/1957 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định những trường hợp phạm tội quả tang và trường hợp khẩn cấp và Sac lệnh số 02-SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quy định các biện pháp ngăn chặn: bát bình thường, bat khẩn cấp, bat người phạm pháp quả tang, tạm giữ va tạm giam. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này không có quy phạm định nghĩa về biện pháp ngăn chặn.
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 hiện hành - Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, các biện pháp ngăn chặn đã được quy định thành một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm: 1) bat người (bat bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã); 2) tạm giữ; 3) tạm giam; 4) cấm đi khỏi nơi cư trú; 5) bảo lĩnh; 6) đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm; 7) giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người giám sat. Bản chất pháp lý của các biện pháp ngăn chặn được xác định bởi tính chất và nội dung của sự cưỡng chế, nói cách khác là tính chất và nội dung của sự tác động về thể chất và tâm lý đối với người bị áp dụng. Nếu như bắt người, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn tác động cả về thể chất và tâm lý, thì cấm đi khỏi nơi cư trú chủ yếu tác động về mặt tâm lý đối với người bị áp dụng. Sự cưỡng chế trong biện pháp ngăn chặn được thể hiện ở sự tạm thời hạn chế tự do của người bị áp dụng.
Đương ahién, mức độ hạn chế tu do ở mỗi biện pháp ngăn chặn không giống nhau. Chính vì vậy, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự. Các biện pháp ngăn chặn khác với các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác ở mục đích áp dụng chúng. Theo quy định tại Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự, mục đích của các biện pháp ngăn chan là: 1) kip thời ngăn chặn tội phạm 2) ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; 3) không để cho bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; 4) đảm bảo việc thi hành án.
Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự khác như khám xét, xem xét dấu vết trên thân thể có mục đích đảm bảo thu thập chứng cứ; còn các biện pháp kê biên tài sản, áp giải, tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm có mục đích đảm bảo tiến hành tố tụng. Mặc dù các biện pháp ngăn chặn hạn chế tạm thời tự do đối với người bị áp dụng, nhưng xét về bản chất pháp lý, nó không phải là hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi lẽ đối với người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong khi đó nguyên tắc suy đoán vô tội đã được thế giới văn minh thừa nhận, đó là: "không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, các biện pháp ngăn chặn không có tính chất trừng phạt, mà ngược lại chúng chỉ là các phương tiện hỗ trợ cho -VIỆC> thực hiện trách nhiệm hình sự và trong thực tế hoàn toàn có khả năng việc một người phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng lại không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Trong khoa học pháp lý có ý kiến cho rằng "các biện pháp ngăn chặn được áp dụng để trấn áp bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác" [21, tr. Chúng tôi không đồng tinh với ý kiến này, bởi lẽ nếu coi các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp trấn áp tức là đã đồng nhất các biện pháp ngăn chặn với hình phạt. Đương nhiên, vì các biện pháp ngăn chặn, nhất là biện pháp tạm giữ, tạm giam luôn luôn gắn liền với sự hạn chế tự do của bị can, bị cáo, cho nên về mặt hình thức có thể có biểu hiện giống hình phạt. Nhưng do các biện pháp ngăn chặn và hình phạt là những chế định pháp lý được các ngành luật khác nhau điều chỉnh, nên chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây: Thứ nhất, các biện pháp ngăn chặn là một nhóm trong các biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự được các cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng theo các quy định của luật tố tụng hình sự.
Trong khi đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khác nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự và chi do Tòa án quyết định. 10 Thứ hai, cơ sở pháp lý của việc áp dụng hình phạt là việc thực hiện tội phạm, trong khi đó cơ sở pháp lý để áp dụng biện pháp ngăn chặn là những tài liệu, chứng cứ về việc bị can, bị cáo có thể trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc sẽ can trở việc thi hành án. Thứ ba, hình phạt không những nhằm mục đích trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, mà còn có mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, trong khi đó các biện pháp ngăn chặn chỉ có mục đích phòng ngừa và tạo điều kiện để làm rõ tội phạm và xử lý người phạm tội. Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa khoa học của các biện pháp ngăn chặn như sau: các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong trường hợp đặc biệt đối với người chưa bị khởi tố nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để cho bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo cho việc thi hành án.
Khái niệm biện pháp tạm giữ Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự do cơ quan điều tra áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. Nó có tác dụng ngăn chặn việc tiếp tục thực hiện tội phạm, sự cản trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, tạo điều kiện làm rõ nhân thân, bước đầu xác định tính chất hành vi phạm tội để có căn cứ ra các quyết định tố tụng khác như khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chan khác hoặc trả tự do cho người bị tạm git. Như vậy, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn tiếp theo sau biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người theo lệnh truy nã nhằm mục đích ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi can trở 11 điều tra xác minh tội phạm, tao điều kiện thuận lợi để cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, bước đầu làm rõ những tình tiết có liên quan đến tội phạm, nhân thân của người bi tam giữ. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Điều 68 Bộ luật tố tụng hình sự quy định tạm giữ chỉ có thể được áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. Do đó, khi việc bat khẩn cấp hoặc bat quả tang được coi là có căn cứ, thì cũng có thể coi là có căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ. Cần phân biệt tạm giữ tố tụng hình sự và tạm giữ hành chính. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính là biện pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa được áp dụng trong trường hợp cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý hành chính hoặc cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự cộng cộng.
Thời hạn tạm giữ người vi phạm hành chính không được quá 12 giờ, trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được kéo dài quá 24 giờ kể từ thời điểm giữ người vi phạm. Tạm giữ tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bat trong các trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang với thời hạn không quá 3 ngày đêm và trong trường hợp cần thiết có thể được gia hạn thêm nhưng phải được Viện Kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.