chương I đi sâu vào nghiên cứu tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2016 — 2020. Thực trạng của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2016 — 2020 Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, càng làm xuất hiện thêm nhiều tội phạm mới có mức độ nguy hiểm với những thủ đoạn tinh vi. Dé đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm cần dựa trên thực trạng của tội phạm. 7c trang cua tội phạm là tình hình thực tế của tội phạm đã xảy ra trong don vị không gian và thời gian nhất định xét A , A Lous A,2 về mức độ và tính chát “.
Thực trạng về mức độ của tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2016 — 2020. Thực trạng của tội phạm xét về mức độ được phán ánh qua các thông số: Tổng các tội phạm đã xảy ra và tong những người đã phạm các tội đó trong don vị không : Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 2 Trường Dai học Luật Ha Nội (2017), Giáo trình tội phạm học, Nxb.
Công an nhân dân, Ha Nội. 6 gian và đơn vị thời gian xác định. Ngoài ra, thuộc về các thông số phản ánh thực trạng của tội phạm xét về mức độ còn có thé là tổng các nạn nhân. Thông số này chỉ đặt ra đối với một số nhóm tội và tội nhất định như nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ với tội danh cụ thé như tội giết người, tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tốn hai cho sức khoẻ của người khác hoặc như nhóm tội xâm phạm tình dục với tội danh cụ thê như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm.
Như vậy, đơn vi tính của tổng phản ánh mức độ của tội phạm ở tất cả các trường hợp là: “ôi phạm đã xảy ra” và “người phạm tội”. Tuy nhiên, tổng tội phạm cũng như tổng người phạm tội đã bị kết án có hiệu lực pháp luật và đã được thê hiện trong thống kê tội phạm mới chỉ phản ánh được một phần thực trạng của tội phạm xét về mức độ. Đó là thực trạng xét về mức độ của tội phạm rõ. Thực trạng thực xét về mức độ còn bao gồm thực trạng xét về mức độ của tội phạm an con lai.
Đề đánh giá được mức độ của tội phạm sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì trước tiên cần phải đi tìm hiểu về mức độ của tội phạm rõ và mức độ tội phạm ấn của tội này. Thông qua số liệu của Vụ tong hợp tòa án nhân dân tối cao, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao. Đồng thời sử dụng bản án sơ thâm về tội phạm này ở Việt Nam. Mà tội phạm đã xảy ra luôn bao gồm hai thành phần, đó là phần “hiện” (còn được gọi là phần “rõ”) và phần “ân”.
Vì vậy khi đi tìm hiểu thực trạng về mức độ của tội phạm này cần phải nhận thức cả tội phạm rõ và tội phạm ân như sau. lội phạm rõ là tội phạm đã được xử ly về hình sự và được dua vào thống kê tội phạm > Tội phạm đã được xử lý về hình sự bao gồm: Tội phạm đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật (kế cả trường hợp được miễn TNHS, được miễn hình phạt) và các trường hợp đã được xác định là tôi phạm nhưng đã bị đình chỉ không xét xử vì những lý do khác nhau như đã hết thời hạn truy cứu TNHS, chủ thé thực hiện đã chết,. Tội phạm đã được xử lý về hình sự như vậy được coi là tội phạm rõ khi đã được phản ánh trong thống kê tội phạm. Từ năm 2016 đến hết năm 2020, Tòa án các cấp ở cả nước đã xét xử 353 vụ án với 759 bị cáo về tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tai sản.
Trung bình mỗi năm có khoảng 71 vụ với 152 bị cáo bị xét sử sơ thâm hình sự về tội phạm này. Cụ thê số liệu hằng năm trên cả nước từ năm 2016 — 2020 được biểu hiện như sau: 3 Trường Dai học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Ha Nội. Số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở nước ta giai đoạn 2016 — 2020.
Năm 2016 2017 2018 | 2019 | 2020 | Tổng | TB Số vụ 73 51 62 76 91 353 71 Số người phạm toi| 181 82 135 164 197 759 152 Nguôn: TANDTC Biêu đô 1. Sô vụ và sô người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viên thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở nước ta giai đoạn 2016 — 2020. 800 700 600 500 400 300 200 100 0 m Số vụ m= Số người phạm tội Bang 1. So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở nước ta giai đoạn 2016 — 2020.
Tội phạm sử dụng mạng máy Các tội phạm chung tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi Giai đoạn 2016-2020 chiêm đoạt tài sản Tổng số TB Tổng số TB Số vụ 353 71 128.742 Số người phạm tội 759 152 258.759 Nguồn: TANDTC Biêu đô 1. So sánh sô vu, sô người phạm tội đã bị xét xử sơ thâm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện 8 hành vi chiếm đoạt tai sản và các tội phạm chung ở nước ta giai đoạn 2016 — 2020. 300000 258794 250000 200000 150000 128713 100000 50000 353 759 0 Tội phạm sử dụng mạng máy Các tội phạm chung tinh.chiém đoạt tài sản m Số vụ = Số người phạm tội Qua bảng số liệu trên cho thấy trong giai đoạn từ năm 2016 — 2020, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 128.713 các loại vụ án hình sự khác nhau và có tới 258. Như vậy trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp sẽ xét xử 25.
Từ đó có thê thấy được số lượng vụ án có tội phạm sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mỗi năm xét xử chiêm 0,2% tông sô vụ án và sô người phạm tội nay bị xét xử chiêm 0,3%. Bên cạnh đó dé xem xét thực trạng về mức độ của tội phạm sử dụng mang máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cần phải xem xét về chỉ số tội phạm và chỉ sé người phạm tội ở nước ta giai đoạn 2016- 2020. Mức độ phổ biến của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được phản ánh qua chỉ s6 tội phạm và chỉ sô người phạm tội. Hai chỉ sô này được tính như sau: Số vụ (hoặc số người phạm tội) của từng năm X 1.000 Sô dân cả nước trong cùng năm tương ứng Bảng 1.
Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở nước ta giai đoạn 2016 — 2020 (tính trên 1. Năm | Dân số cả nước Số vụ Số người Chỉ số tội | Chỉ số người (triệu người) phạm tội phạm phạm tội 2016 93,64 73 181 1 2 2017 94,6 51 82 1 1 2018 95,54 62 135 | | 2019 96,2 76 164 | 1 2020 97,58 91 197 | 2 TB 78.000 71 152 | 1 Nguôn: Tổng cục thông kê và TANDTC Qua bảng số liệu trên ta có thé thấy răng cứ 1.000 người thì sẽ có 1 vụ và 1 người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam. lội phạm ẩn là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực hiện trên thực tễ nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyên hoặc chưa bị phát hiện (một cách chính thức) và do vậy chưa bị xử lý về hình sự, chưa có trong thống kê chính thức”. Trên cở sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tác giả chia tội phạm ấn thành ba loại, gôm: + Tội phạm ân khách quan (còn được gọi là tội phạm an tự nhiên): Tội phạm an khách quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lí tội phạm không có thông tin về chúng.
+ Tội phạm ân chủ quan (còn được gọi là tội phạm ân nhân tạo): Tội phạm an chủ quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế mà thông tin về chúng đã được cơ quan có thâm quyền phát hiện, xử lí tội phạm năm được, song vi nhiéu ly do khac nhau, cac tội phạm đó trong một thời gian nhất định hoặc vĩnh viễn không bị xử lí hoặc không thê xử lí hoặc xử lí không đúng quy định của pháp luật. +__ Tội phạm ấn thống kê: Cho đến nay, còn có nhiều quan điểm khác nhau về tội phạm ân thống kê Ÿ. Tội phạm ấn thống kê là toàn bộ các tội danh mà bị cáo bị tòa án xét xử trong một bản án hình sự nhưng đo quy định của pháp luật về thống kê tội phạm đã không thống kê đủ số tội danh đó nên bị loại ra ngoài con số thống kê. * Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình tội phạm học, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội.Duong Tuyết Mién (2010), Bàn về tội phạm rõ, tôi phạm ẩn, Tạp chí Luật học số 3/2010, tr.27-31; Tran Hữu Tráng (2000), Một số van đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 3/2000, tr.