Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê tư pháp trong giai đoạn 2005 - 2012, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về chức vụ tại Việt Nam đã đạt được nhiều chuyển biến, nhưng tình trạng đưa, nhận và môi giới hối lộ vẫn diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi cả nước. Hành vi hối lộ không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào bộ máy công quyền mà còn cản trở tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức rõ tính nguy hại của loại tội phạm này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ đã xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cấp bách, mang tính sống còn.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đồng thời tiến hành so sánh toàn diện với các tiêu chuẩn trong Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) - văn kiện mà Việt Nam chính thức phê chuẩn ngày 20/6/2009 và có hiệu lực từ ngày 18/9/2009. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 tội danh chính gồm Tội nhận hối lộ, Tội đưa hối lộ, Tội làm môi giới hối lộ trong tiến trình lịch sử pháp luật từ năm 1945 đến năm 2012. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc phục vụ việc sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự, thúc đẩy mục tiêu xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng và nâng cao chỉ số minh bạch quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân và coi tham nhũng là tệ nạn nội xâm. Các quan điểm định hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đóng vai trò kim chỉ nam lý luận cho toàn bộ nghiên cứu.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được phân tích chuyên sâu gồm 5 yếu tố trọng tâm:

  • Tội nhận hối lộ (quy định tại Điều 279 Bộ luật Hình sự năm 1999);
  • Tội đưa hối lộ (Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 1999);
  • Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 1999);
  • Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn theo Điều 277 Bộ luật Hình sự;
  • Khái niệm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và phạm vi công vụ mở rộng.

Nghiên cứu cũng đối chiếu mô hình lý thuyết của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế về hành vi hối lộ trong khu vực công và khu vực tư theo quy định của Công ước UNCAC.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú, bao gồm toàn bộ báo cáo tổng kết xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong 8 năm (từ năm 2005 đến năm 2012) với cỡ mẫu khảo sát là hàng trăm vụ án hình sự về hối lộ được thụ lý, xét xử trên toàn quốc. Bên cạnh đó, nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ Bảng xếp hạng mức độ hối lộ của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) tiến hành khảo sát tại 28 quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm đảm bảo tính khách quan và đối sánh quốc tế.

Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc kết hợp giữa chọn mẫu toàn phần đối với các số liệu thống kê xét xử thường niên giai đoạn 2005 - 2012 và chọn mẫu điển hình đối với các vụ án trọng điểm có dấu hiệu pháp lý phức tạp. Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp so sánh luật học, phân tích quy phạm, tổng hợp tài liệu và thống kê xã hội học pháp luật. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là vì nghiên cứu đòi hỏi phải phân tích đa chiều giữa quy định của luật quốc gia và điều ước quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống lập pháp và đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự. Timeline nghiên cứu bao quát tiến trình lập pháp từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua các lần ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, năm 1999 và giai đoạn gia nhập UNCAC đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự thiếu thống nhất trong việc phân loại nhóm tội phạm về hối lộ trong cấu trúc Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong khi Tội nhận hối lộ (Điều 279) được xếp vào Mục A - Các tội phạm về tham nhũng, thì Tội đưa hối lộ (Điều 289) và Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) lại bị xếp sang Mục B - Các tội phạm khác về chức vụ. Sự phân chia này dẫn đến cách hiểu chưa toàn diện rằng chỉ có hành vi nhận hối lộ mới là tham nhũng, làm giảm hiệu lực đấu tranh tổng thể đối với mạng lưới hối lộ gồm cả 3 bên liên quan.

Thứ hai, định lượng giá trị của hối lộ trong luật thực định còn cứng nhắc và chưa bao quát. Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức định lượng khởi điểm cấu thành tội phạm là từ 2 triệu đồng trở lên, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng. Quy định này chỉ tập trung vào của hối lộ mang tính chất vật chất, bỏ sót hoàn toàn các lợi ích phi vật chất (như vị trí công tác, học hàm, giải thưởng hoặc các lợi ích vô hình khác) - vốn là dạng hành vi được Công ước UNCAC đặc biệt khuyến nghị hình sự hóa.

Thứ ba, thống kê tư pháp giai đoạn 2005 - 2012 phản ánh tỷ lệ xử lý tội phạm hối lộ chưa tương xứng với thực trạng vi phạm. Trong hơn 8 năm theo dõi, số lượng các vụ án nhận hối lộ được đưa ra xét xử chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn so với các tội danh tham nhũng khác như tội tham ô tài sản. Tỷ lệ phát hiện và xử lý hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ còn thấp hơn, tạo ra khoảng cách lớn giữa tội phạm ẩn trong xã hội và tội phạm bị xử lý theo luật định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các bất cập trên bắt nguồn từ rào cản quy định về chủ thể đặc biệt và phạm vi công vụ. Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ giới hạn người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công, trong khi sự phát triển của nền kinh tế thị trường khiến hành vi hối lộ trong khu vực tư nhân gia tăng nhanh chóng. So sánh với Công ước UNCAC - văn kiện có sự tham gia của gần 140 quốc gia thành viên, các nước phát triển đều đã mở rộng phạm vi hình sự hóa sang cả viên chức quốc tế và thể nhân trong khu vực tư.

Để làm nổi bật các kết quả này, số liệu thống kê xét xử giai đoạn 2005 - 2012 có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình cột thể hiện số vụ án khởi tố qua từng năm, kết hợp bảng cơ cấu phân chia tỷ lệ phần trăm giữa 3 tội danh đưa, nhận và môi giới hối lộ. Biểu đồ này sẽ minh chứng trực quan cho sự chênh lệch lớn giữa các tội danh và chứng minh tính cấp thiết của việc sửa đổi các quy định định tính, định lượng nhằm đảm bảo sự tương thích với chuẩn mực quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Ban Soạn thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự cần khẩn trương mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm hối lộ sang khu vực ngoài nhà nước theo định hướng tại Đề cương số 7724/ĐC-BSTBLHS ngày 24/9/2012. Cần bổ sung quy định xử lý hành vi đưa, nhận, môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và đối với công chức nước ngoài, viên chức của các tổ chức quốc tế công nhằm đạt mục tiêu 100% tương thích với Điều 15, Điều 16 và Điều 21 của Công ước UNCAC trong giai đoạn lập pháp 2013 - 2015.

Thứ hai, sửa đổi cấu thành tội phạm theo hướng bổ sung của hối lộ bao gồm cả lợi ích phi vật chất bên cạnh các lợi ích vật chất truyền thống. Đồng thời, cơ quan lập pháp cần điều chỉnh linh hoạt mức định lượng 2 triệu đồng, loại bỏ rào cản giá trị tối thiểu đối với các hành vi có tính chất nguy hiểm cao nhằm nâng cao tỷ lệ phát hiện và xử lý tội phạm hối lộ ẩn lên ít nhất 30% trong vòng 3 năm áp dụng luật mới.

Thứ ba, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp liên ngành để ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt như giám sát điện tử, giao dịch có kiểm soát theo khuyến nghị của UNCAC. Giải pháp này giúp tăng hiệu quả thu thập chứng cứ ngầm, hướng tới mục tiêu giảm 50% số vụ án bị đình chỉ do thiếu chứng cứ trong giai đoạn thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Thứ tư, Chính phủ và Thanh tra Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện 5 nhóm giải pháp tại Nghị quyết số 21/NQ-CP, hoàn thiện hạ tầng Cổng thông tin điện tử phòng chống tham nhũng (chongthamnhung.vn), tăng cường tính minh bạch và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho người tố cáo tham nhũng theo đúng lộ trình giai đoạn 2011 - 2016 và 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan lập pháp và thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án sửa đổi Bộ luật Hình sự. Luận văn cung cấp hệ thống lập luận khoa học, cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng khung hình phạt và mô hình tội phạm hối lộ mới.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ tư pháp bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp. Luận văn hỗ trợ tháo gỡ các vướng mắc trong việc định tội danh, xác định yếu tố cấu thành tội phạm và đánh giá chứng cứ đối với các vụ án đưa, nhận và môi giới hối lộ phức tạp.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự, Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật. Công trình là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị về phương pháp so sánh luật học và lý luận định tội danh.

Thứ tư, các chuyên gia pháp chế, lãnh đạo doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong việc xây dựng hệ thống quy tắc kiểm soát nội bộ (compliance), nhận diện sớm các rủi ro hối lộ thương mại và bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực phòng chống tham nhũng quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Điểm khác biệt lớn nhất giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Công ước UNCAC về tội phạm hối lộ là gì? Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ xử lý hành vi hối lộ trong khu vực công và giới hạn của hối lộ là lợi ích vật chất từ 2 triệu đồng trở lên. Ngược lại, Công ước UNCAC yêu cầu hình sự hóa cả khu vực tư nhân, công chức quốc tế và bao quát toàn bộ các lợi ích phi vật chất.

Câu hỏi 2: Tại sao Bộ luật Hình sự năm 1999 không xếp tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ vào nhóm tội phạm tham nhũng? Các nhà làm luật Việt Nam thời kỳ đó quan niệm chủ thể tội phạm tham nhũng bắt buộc phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người đưa hối lộ và môi giới hối lộ có thể là bất kỳ công dân nào, do đó hai tội danh này chỉ được xếp vào nhóm các tội phạm khác về chức vụ.

Câu hỏi 3: Việt Nam đã đưa ra những bảo lưu nào khi phê chuẩn Công ước UNCAC vào ngày 20/6/2009? Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi Khoản 2 Điều 66 về thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế, không áp dụng trực tiếp Công ước để dẫn độ và bảo lưu một số quy định tùy nghi như trách nhiệm hình sự của pháp nhân, hành vi làm giàu bất hợp pháp và tham nhũng khu vực tư.

Câu hỏi 4: Luận văn đề xuất xử lý của hối lộ là lợi ích phi vật chất như thế nào? Luận văn kiến nghị sửa đổi quy định định nghĩa của hối lộ trong Bộ luật Hình sự thành tiền, tài sản hoặc mọi lợi ích vật chất, phi vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào, giúp cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý xử lý các hành vi thỏa thuận ngầm phi tài sản.

Câu hỏi 5: Nghị quyết số 21/NQ-CP của Chính phủ phân chia lộ trình Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 ra sao? Nghị quyết số 21/NQ-CP xác định 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2009 - 2011) tập trung nâng cao năng lực phát hiện và xử lý vụ việc nổi cộm; Giai đoạn 2 (2011 - 2016) mở rộng kiểm soát tài sản, thu nhập và tổng kết 10 năm Luật Phòng chống tham nhũng; Giai đoạn 3 (2016 - 2020) hoàn thiện đồng bộ thể chế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm hối lộ từ năm 1945 đến năm 2012.
  • Công trình chỉ rõ các khoảng trống pháp lý của Bộ luật Hình sự năm 1999 so với Công ước UNCAC, đặc biệt là giới hạn khu vực công và lợi ích vật chất 2 triệu đồng.
  • Đánh giá sâu sắc thực tiễn xét xử giai đoạn 2005 - 2012, chứng minh tính cấp thiết của việc khắc phục tình trạng phân tách thiếu thống nhất giữa 3 tội danh hối lộ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm nội luật hóa đầy đủ các chuẩn mực của Công ước Liên Hợp Quốc vào pháp luật quốc gia.
  • Cung cấp nguồn tư liệu khoa học chất lượng cao phục vụ trực tiếp cho Đề cương số 7724/ĐC-BSTBLHS ngày 24/9/2012 của Bộ Tư pháp về sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật hình sự sang khu vực tư và bổ sung chế tài đối với các lợi ích phi vật chất. Để phát huy tối đa giá trị nghiên cứu, các cơ quan hữu quan cần khẩn trương đưa các kiến nghị này vào chương trình xây dựng luật giai đoạn tiếp theo. Độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ thực thi pháp luật được khuyến khích khai thác sâu các luận điểm của công trình nhằm đóng góp tích cực vào công cuộc phòng, chống tham nhũng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.