Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm Phòng ngừa nói chung là làm một cái gì đó trước khi sự việc diễn ra nhằm ngăn chặn không để xảy ra hậu quả. Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm đã từng xuất hiện rất lâu từ trong lịch sử.
Từ giữa thế kỷ 18, Mông- téc- xki- ơ đã từng cho rằng: Nhà làm luật thông minh không hẳn chỉ quan tâm đến các hình phạt đối với tội phạm mà chủ yếu phải quan tâm đến việc phòng ngừa tội phạm. Những tư tưởng như vậy được tiếp thu trong các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin: Phòng ngừa là phương hướng chính của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm. Người đã từng nói “xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”.
Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta là lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt. Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm chiếm vị trí rất quan trọng trong nội dung chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, phòng ngừa tình hình tội phạm được coi là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cũng như của tất cả các cơ quan, tổ chức, trong đó các cơ quan bảo vệ pháp luật và Công an là lực lượng trung tâm và nòng cốt. Như vậy, phòng ngừa tình hình tội phạm không phải chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Điều này 6 hoàn toàn phù hợp với các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật và lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.
Công tác đấu tranh với tội phạm có hai phương hướng có tác động chặt chẽ với nhau: phòng ngừa và phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm nhằm trừng trị và giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên, biện pháp đấu tranh có hiệu quả nhất đối với tội phạm chính là phòng ngừa không cho tội phạm xảy ra. Do đó, phòng ngừa tình hình tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt trong lý luận về tội phạm học. Nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học.
Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội phạm. Tuy nhiên, ngành khoa học về phòng ngừa tội phạm (tội phạm học) phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm. Phòng ngừa không để tội phạm xảy ra chứ không phải để tội phạm xảy ra rồi mới tìm cách khắc phục. Trường hợp hãn hữu nếu tội phạm có xảy ra thì ở mức độ hạn chế gây hậu quả (thiệt hại) cho xã hội, kịp thời xử lý nhanh chóng tội phạm, khắc phục hậu quả.
Trên cơ sở này, tội phạm học còn phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này mới có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa tình hình tội phạm lại được hiểu một cách trực tiếp và đơn 7 giản chính là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, các cơ quan chuyên trách trong công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ quan Nhà nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển.) nhằm ba mục đích là nghiên cứu môi trường sống (gia đình - nhà trường - xã hội) xung quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người phạm tội. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực về tội phạm, các tác nhân ảnh hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã hội, công tác tổ chức cán bộ.) cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác.
Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua, dưới góc độ tội phạm học, theo chúng tôi phòng ngừa tội phạm có thể được khái niệm như sau: Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của các cơ quan,tổ chức và cá nhân, sử dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm Phòng ngừa tình hình tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và quá trình xây dựng và phát triển đất nước, bao gồm: - Ý nghĩa lý luận của phòng ngừa tình hình tội phạm: Nghiên cứu về tội phạm học khẳng định, phòng ngừa tình hình tội phạm chỉ có thể đạt được trên 8 cơ sở đã hiểu rõ khách thể nghiên cứu của nó là tình hình tội phạm, cũng như đã xác định được quy luật vận động của khách thể đó. Quy luật này chính là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học và nó được xác định thông qua việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên cơ sở của cơ chế hành vi phạm tội. Điều đó có nghĩa rằng, tội phạm học thừa nhận tình hình tội phạm là hiện tượng tiêu cực tồn tại khách quan, do những con người bình thường, không phải bẩm sinh phạm tội, gây ra; đồng thời nó cũng phát sinh từ những yếu tố chủ quan của con người như nhận thức, hoàn cảnh.
Chính vì thế, phòng ngừa tình hình tội phạm phải khống chế được các yếu tố tiêu cực của tội phạm của họ và của những người khác ở trạng thái tiềm tàng và hạn chế những nguyên nhân xuất phát từ phía nạn nhân của tội phạm từ đó từng bước đẩy lùi tội phạm khỏi đời sống xã hội. Đó chính là cái nghĩa lý luận, giải thích tại sao, phòng ngừa tội phạm hay phòng ngừa tình hình tội phạm luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong nghiên cứu tội phạm học. - Ý nghĩa thực tiễn của phòng ngừa tình hình tội phạm: Việc phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm [29, tr. Phòng ngừa tội phạm là một phương hướng có tính chiến lược lâu dài, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm khác.
Đó là hoạt động phòng ngừa tội phạm được được thực hiện trong mọi thời gian, không gian khác nhau. Ngoài ra, phòng ngừa tình hình tội phạm còn tác động đến các quá lĩnh vực khác của quá trình xây dựng và phát triển đất nước như lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. trong mối quan hệ với các hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm khác thông qua công tác phòng ngừa tội phạm [17, tr. 9 Ngoài ra, phòng ngừa tình hình tội phạm còn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, làm tốt công tác phòng ngừa tình hình tội phạm giúp giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của xã hội, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của mọi người dân.
Đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án việc xử lý tội phạm, làm tốt công tác phòng ngừa giúp hiệu quả hoạt động của các cơ quan này tăng cao, làm tăng niềm tin của quần chúng nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong hoạt động của mình các cơ quan bảo vệ pháp luật, các chức danh tư pháp hình sự và thi hành án việc phòng ngừa tội phạm giúp làm giảm áp lực công việc lên cán bộ thực thi công vụ, tiết kiệm sức lao động của nhân viên Nhà nước cũng như của công dân trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và giáo dục, cải tạo người phạm tội. Hơn nữa, làm tốt công tác phòng ngừa tình hình tội phạm còn mang ý nghĩa kinh tế sâu sắc, làm giảm các chi phí liên quan đến việc xử lý tội phạm, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nghĩa là tiền thuế của người dân sẽ được dùng cho các công việc phúc lợi khác thay vì dùng cho việc xử lý tội phạm. Các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội phạm Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của toàn xã hội do Đảng lãnh đạo nhằm giải quyết hai vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau là vấn đề thực trạng của tình hình tội phạm và vấn đề nguyên nhân, điều kiện của hiện tượng tiêu cực này.