CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 1. Trật tự an toàn xã hội và bảo đảm trật tự an toàn xã hội 1. Khái niệm về trật tự an toàn xã hội Trật tự an toàn xã hội là khái niệm thuộc phạm trù chính trị - pháp lý, đồng thời là thuật ngữ cơ bản, nền tảng trong nghiên cứu lý luận và tổ chức hoạt động thực tiễn của lực lượng Công an nhân dân - lực lượng nòng cốt trong quản lý trật tự an toàn xã hội. Thuật ngữ “trật tự an toàn xã hội” được sử dụng vào những năm 1970, thay cho thuật ngữ “trật tự trị an” trước đó.
Thuật ngữ này được sử dụng trong Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1976: “Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự an toàn xã hội” [22]. Điều 46, Hiến pháp, năm 2013: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và Pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” [37]. Đồng thời, thuật ngữ này cũng được sử dụng trong Luật Công an nhân dân các năm 2005, 2014, 2018 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo từ điển Bách khoa CAND Việt Nam, năm 2005: “Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý được xác định” [9].
“Trật tự xã hội” là khái niệm chỉ sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần xã hội trong cơ cấu xã hội; trật tự xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội và cơ chế bảo đảm tính trật tự xã hội là các thiết chế xã hội. Trật tự xã hội biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động xã hội. Nhờ trật tự xã hội mà hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, cho 8 phép nó hoạt động một cách có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo.
Như vậy, nói đến TTATXH là nói đến trạng thái ổn định, có trật tự, kỷ cương của xã hội. Trật tự, kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó mà mọi người có được cuộc sống yên ổn, an toàn. Nói cách khác, trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội có thể hiểu là các hành vi làm ảnh hưởng, đe dọa, hoặc làm phá vỡ sự tình trạng (trạng thái) bình yên của xã hội.
Khái niệm về bảo đảm trật tự an toàn xã hội Theo Điều 3, Luật Công an nhân dân, năm 2014 quy định: “Bảo đảm trật tự an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội” [39], theo đó, có thể hiểu bảo đảm TTATXH gồm: Các hoạt động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Trật tự an toàn xã hội thể hiện mối quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng trong phạm vi một quốc gia. TTATXH là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống các quy phạm pháp luật của nhà nước, các chuẩn mực đạo đức xã hội trong đời sống cộng đồng của quốc gia, dân tộc nhờ đó, người dân sống và hoạt động có tổ chức, kỷ cương, mọi quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo không bị xâm hại. ANQG và TTATXH gồm hai nội dung, hai mối quan hệ thể hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Giữa ANQG và TTATXH có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, tác 9 động và chuyển hóa lẫn nhau, ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và phát triển của đất nước. ANQG được bảo vệ vững chắc mới tạo điều kiện cơ bản thuận lợi để bảo vệ tốt TTATXH. Bảo đảm TTATXH là bảo đảm trạng thái bình yên, an toàn, có trật tự, kỷ cương của xã hội, là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn và các hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến trạng thái đó. Bảo đảm TTATXH là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, lực lượng CAND giữ vai trò nòng cốt, có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn TTCC, bảo đảm TTATGT, tham gia phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường.
Ngược lại, không bảo đảm TTATXH để tội phạm, tệ nạn xã hội lộng hành, kỷ cương pháp luật không nghiêm, tài sản của nhà nước bị xâm hại, công dân không được bảo vệ, lòng dân bất an không tin vào chế độ, vào sự quản lý của nhà nước, các vụ biểu tình, khiếu kiện diễn biến phức tạp, nghiêm trọng kéo dài, không kiểm soát được sẽ gây ảnh hưởng rất xấu, thậm chí chuyển hóa thành vấn đề chống đối chính trị, từ đó sẽ tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại ANQG. Thực tiễn phát triển, biến đổi xã hội của nhiều quốc gia cho thấy, để đất nước có được đời sống kinh tế - xã hội bình thường thì các thiết chế chính trị, xã hội phải được vận hành theo những nguyên lý, trật tự nhất định, nếu phá vỡ trật tự đó thì xã hội sẽ rối loạn. Do đó, xã hội cần có sự bảo đảm an ninh, an toàn và thiết lập một trật tự với sự tuân thủ những quy tắc của đời sống xã hội. An ninh, trật tự chính là sự bảo đảm bằng sức mạnh trên cơ sở pháp luật của quốc gia để giữ vững trật tự xã hội, tạo thuận lợi để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Bảo đảm TTATXH là nhằm bảo đảm trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở quy định của pháp luật, các quy tắc và 10 chuẩn mực đạo đức; là nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về TTATXH. Các lĩnh vực bảo đảmtrật tự an toàn xã hội Tổng hợp nội dung tại Giáo trình Quản lý Nhà nước về an ninh, quốc phòng của Học viện Hành chính [32, tr.87] và tại Bách khoa thư Công an nhân dân Việt Nam của Bộ Công an - Cục Khoa học, chiến lược và lịch sử Công an [11, tr.290], có thể nói QLNN về TTATXH bao gồm các lĩnh vực: * Đấu tranh phòng, chống tội phạm Đấu tranh phòng, chống tội phạm là việc tiến hành các biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm; phát hiện để ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra cho xã hội; điều tra khám phá tội phạm và người phạm tội để đưa ra xử lý trước pháp luật đảm bảo đúng người, đúng tội; giáo dục, cải tạo người phạm tội giúp họ nhận thức được lỗi lầm và cố gắng cải tạo tốt, có thể tái hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành người lương thiện, sống có ích cho xã hội. *Giữ gìn trật tự nơi công cộng. Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo.
TTCC là một mặt của TTATXH và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, yên tĩnh, vệ sinh, nếp sống văn minh; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận. Giữ gìn trật tự nơi công cộng chính là giữ gìn trật tự, yên tĩnh chung, giữ gìn vệ sinh chung, duy trì nếp sống văn minh ở những nơi công cộng - nơi diễn ra các hoạt động chung của nhiều người, đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người. *Bảo đảm trật tự an toàn, giao thông Trật tự an toàn, giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải 11 công cộng mà mọi người phải tuân theo khi tham gia giao thông, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, có trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản. Đảm bảo trật tự an toàn, giao thông không phải là nhiệm vụ của riêng các lực lượng chức năng (cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông công chính…) mà là trách nhiệm của tất cả mọi người khi tham gia giao thông.
Đó là việc nắm vững và tuân thủ nghiêm túc Luật Giao thông, mọi hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông phải được xử lý nghiêm khắc, những thiếu sót, yếu kém là nguyên nhân, điều kiện gây ra các tai nạn giao thông phải được khắc phục nhanh chóng. * Phòng ngừa tai nạn lao động, chống thiên tai, phòng ngừa dịch bệnh Ngoài các hoạt động phòng ngừa tai nạn giao thông, các loại tai nạn lao động cũng cần được chú ý phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do tai nạn gây ra. Thiên tai, dịch bệnh tuy có thể không do con người tự gây ra, tuy nhiên nó có sức tàn phá ghê gớm, hủy hoại nhiều tài sản, cướp đi sinh mệnh của nhiều người, để lại những hậu quả nặng nề mà xã hội phải khắc phục trong thời gian dài.