CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ HÀNH VI MUA BÁN, SỬ DỤNG TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNGVÀ CÔNG TÁC PHÁT HIỆN ĐIỀU TRA TỘI PHẠMMUA BÁN, SỬ DỤNG TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHỨC VỤ 1. Hoá đơn Giá trị gia tăng và một số qui định về chế độ quản lý và sử dụng hoá đơn Giá trị gia tăng Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi mức độ nghiệp vụ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách Nhà nước và số thuế GTGT được hoàn. Với giá trị pháp lý riêng có này của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người được viết hoá đơn GTGT là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp dịch vụ hàng hoá dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hoá đơn; những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp hàng hoá dịch vụ không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghiệp vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT.
Điều này có nghĩa rằng, người được sử dụng hoá đơn GTGT phải đáp ứng đầy đủ những tiêu thức pháp lý nhất định. Xét về phương diện quản lý Nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản pháp lý của Nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của Nhà nước trên tất cả mọi mặt hoạt động của xã hội, Nhà nước phải sử dụng những hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản, chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra các văn bản quản lý. 8 Văn bản quản lý Nhà nước là quyết định quản lý thành văn viết do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành mang tính chất quyền lực Nhà nước, đơn phương làm phát sinh các hệ quả pháp lý cụ thể.
Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước ở nước ta hiện nay bao gồm: - Văn bản qui phạm pháp luật được qui định trong luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật. - Văn bản hành chính thông thường như công văn hành chính, thông báo, báo cáo, tờ trình, biên bản. - Văn bản chuyên môn như hoá đơn, chứng từ của ngành tài chính; học bạ của ngành đào tạo; quyết định kháng nghị của VKSND. - Văn bản kỹ thuật.
Như vậy hoá đơn GTGT cũng nằm trong hệ thống các văn bản quản lý của Nhà nước. - Chương 2 điều 11 Luật thuế GTGT (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) qui định về hoá đơn, chứng từ như sau: Mục 1: Việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn chứng từ theo qui định của pháp luật. Mục 2: Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải sử dụng hoá đơn GTGT và phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố qui định, trong đó ghi rõ giá bán, khoản phụ thu, phí thu thêm, khoản thuế GTGT, giá thanh toán. Trong trường hợp hoá đơn không ghi khoản thuế GTGT thì thuế GTGT được xác định bằng giá thanh toán theo hoá đơn nhân với thuế suất thuế GTGT.
Mục 4: Cơ sở kinh doanh có hành vi in, phát hành, sử dụng hoá đơn không đúng qui định để trốn thuế, gian lận trong khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT, ngoài việc phải truy thu, truy hoàn số tiền thuế gian lận còn bị xử phạt 9 vi phạm hành chính về thuế, nếu mức độ vi phạm nghiêm trọng còn phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật. - Chương 2 điều 11 nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành luật thuế GTGT và luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế GTGT qui định: Các cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ theo đúng qui định của pháp luật. Hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ qui định đối với các cơ sở kinh doanh như sau: Mục 1: Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải sử dụng hoá đơn GTGT. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố ghi trên hoá đơn, về giá bán phải ghi rõ: giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, giá thanh toán đã có thuế.
Mục 4: Các cơ sở kinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hoá cho người tiêu dùng, đối với hàng hoá có giá bán dưới mức qui định phải lập hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng, nếu cơ sở không lập hoá đơn thì phải lập bản kê hàng bán lẻ theo mẫu bản kê của cơ quan thuế để làm căn cứ tính thuế GTGT; trường hợp người mua yêu cầu lập hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng thì phải lập hoá đơn theo đúng qui định. Mục 5: Cơ sở kinh doanh có hành vi in, phát hành, sử dụng hoá đơn không đúng qui định để trốn thuế, gian lận trong khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT, ngoài việc phải truy thu, truy hoàn số tiền thuế gian lận còn bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu mức độ vi phạm nghiêm trọng còn phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật. - Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành luật thuế GTGT và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT. Trong chương IV về hoá đơn chứng từ mua 10 bán hàng hoá, dịch vụ qui định: Cơ sở kinh doanh khi mua bán hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện chế độ hoá đơn chứng từ theo qui định của pháp luật.
Mục 1: Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn GTGT, kể cả trường hợp bán hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT). Mục 4: Hoá đơn, chứng từ hợp pháp là: + Hoá đơn do Bộ tài chính (Tổng cục thuế) phát hành do cơ quan thuế cung cấp cho các cơ sở kinh doanh. + Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụng theo mẫu qui định và đã được cơ quan thuế chấp nhận cho sử dụng. + Các loại hoá đơn, chứng từ đặc thù khác được phép sử dụng.
- Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn. Điều 3 mục 1: Hoá đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo qui định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Mục 8: Hoá đơn khống là hoá đơn đã được lập nhưng nội dung giao dịch là không có thực. Điều 4: Các hành vi bị cấm Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân in, phát hành, sử dụng, quản lý, mua,bán hoá đơn trái với qui định tại nghị định này.
Chương 2 qui định cụ thể việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn. Trong đó, điều 11 mục 2 điểm a qui định đối với tổ chức, cá nhân sử dụng hoá đơn: Phải sử dụng hoá đơn theo đúng qui định, không được mua, bán, cho hoá đơn hoặc dùng hoá đơn của tổ chức, cá nhân khác; không được sử dụng hoá đơn để kê khai khống thuế, chi phí, thanh toán tài chính; 11 - Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn. Chương VI: Qui định cụ thể về việc sử dụng hoá đơn Chương VII: Qui định cụ thể việc quản lý hoá đơn Như vậy qua hệ thống văn bản pháp luật về thuế GTGT qui định rất cụ thể việc mua bán, quản lý và sử dụng hoá đơn GTGT. Việc nắm vững những văn bản pháp luật này là một trong những yếu tố quan trọng hết sức cần thiết giúp lực lượng CSKT, CSĐT trước đây.
Lực lượng CSĐTTP về TTQLKT và chức vụ hiện nay, với chức năng nhiệm vụ của mình phòng ngừa điều tra tội phạm trong lĩnh vực mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng có hiệu quả hơn. Nhận thức về hành vi mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn Gía trị gia tăng. Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 10, Chủ tịch nước công bố ngày 22/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển trong quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế.
Sau hơn 8 năm thực hiện, luật thuế GTGT đã từng bước đi vào cuộc sống, được nhiều doanh nghiệp tự giác thực hiện, làm tăng thu ngân sách, ổn định thị trường, đảm bảo công bằng quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan Nhà nước cũng như doanh nghiệp, tạo ra khả năng cạnh tranh lành mạnh trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp không chấp hành các qui định của Nhà nước trong việc sử dụng hoá đơn GTGT. Lợi dụng thủ tục, qui định của luật doanh nghiệp thông thoáng để đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký mã số thuế, mua hoá đơn 12 GTGT nhưng không tổ chức sản xuất kinh doanh. Mục đích là mua bán hoá đơn GTGT khống lấy tiền, khi bị phát hiện thì tuyên bố giải tán doanh nghiệp, chuyển, thay đổi địa chỉ giao dịch mà không báo cáo cơ quan chức năng quản lý Nhà nước.