Tổng quan luận án
Công cuộc đổi mới đất nước khởi xướng từ năm 1986 đã mang lại những chuyển biến căn bản trên mọi phương diện kinh tế - xã hội, củng cố an ninh chính trị và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, cùng với tiến trình phát triển kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập, tình hình tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng đã có những diễn biến phức tạp. Tội trộm cắp tài sản là loại tội phạm có tính phổ biến cao, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tội phạm hình sự cũng như nhóm tội xâm phạm sở hữu; đồng thời, tình trạng người phạm tội có tiền án, tiền sự, tái phạm và tái phạm nguy hiểm chiếm số lượng đáng kể tại các cấp xét xử của Tòa án. Bộ luật Hình sự năm 1999 đã hợp nhất các quy định trước đây thành Điều 138, song trong lý luận và thực tiễn xét xử vẫn còn nhiều vướng mắc về dấu hiệu pháp lý đặc trưng, định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt và việc định tội danh nhằm phân biệt với các tội xâm phạm sở hữu khác. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn đối với loại tội phạm này.
Luận án tiến sĩ luật học "Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Hoàng Văn Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Văn Cảm, bảo vệ năm 2007 tại Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự và Tội phạm học (Mã số: 62.38.01.xx / 62.01).
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này. Để đạt được mục đích đề ra, luận án thực hiện 6 nhiệm vụ cụ thể:
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định trong luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản;
- Nghiên cứu pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới về tội trộm cắp tài sản và các quy định tương ứng trong luật hình sự Việt Nam;
- Xác định khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội trộm cắp tài sản, phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác;
- Xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999;
- Làm rõ thực trạng tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam trong những năm qua;
- Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản từ nay đến năm 2015 và đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tội trộm cắp tài sản dưới hai bình diện kết hợp: pháp lý hình sự và tội phạm học. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung trên lãnh thổ Việt Nam có đối chiếu, so sánh với pháp luật một số quốc gia. Phạm vi về thời gian khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật và dữ liệu thống kê xét xử sơ thẩm trong giai đoạn 10 năm từ năm 1997 đến năm 2006, cùng tầm nhìn dự báo tình hình tội phạm đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tội trộm cắp tài sản đã được nhiều nhà luật học và các cơ quan nghiên cứu tại Việt Nam quan tâm tiếp cận ở các phạm vi và giác độ khác nhau:
- Tác giả Vũ Thiện Kim (1980) với công trình "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân" (Phòng xuất bản, Tòa án nhân dân tối cao) đã bình luận, phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản năm 1970.
- Tác giả Trịnh Hồng Dương (1980) trong luận án Tiến sĩ Luật học đã giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng luật hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu.
- Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, có công trình của tác giả Nguyễn Gia Hoàn (2000) về "Đấu tranh phòng ngừa và chống tội trộm cắp tài sản trong quân đội" tại Trường Đại học Luật Hà Nội, và tác giả Nguyễn Công Thập (2001) về "Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp trên địa bàn tỉnh Hải Dương".
- Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2001) xuất bản công trình "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu", đánh giá tình hình tội phạm học và phân tích hệ thống chính sách hình sự đối với nhóm tội này.
- Vấn đề định tội danh đối với các hành vi phát sinh trong thực tiễn như lắp đặt thiết bị viễn thông thu cước trái phép được tranh luận trên Tạp chí Tòa án nhân dân qua các bài viết của Đức Dũng (số 15/2004), Lê Đăng Doanh (số 17/2004), Trần Vũ Hải (số 22/2004), Lê Văn Luật (số 11/2004), Dương Tuyết Miên (số 17/2004). Các khía cạnh định lượng và hình phạt được phân tích bởi Đặng Anh (2002), Lê Thị Sơn (2005), Nguyễn Sơn (1998) và Dương Tuyết Miên (1999).
- Về lịch sử luật hình sự phong kiến, có các công trình của Trần Quang Tiệp (2003) với "Lịch sử luật hình sự Việt Nam" và Lê Thị Sơn (2004) với "Quốc triều hình luật, lịch sử hình thành, nội dung và giá trị".
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: Cho đến thời điểm năm 2007, ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản đồng thời dưới hai góc độ pháp lý hình sự và tội phạm học trong bối cảnh thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật, cùng đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước. Luận án vận dụng quan điểm lý luận về cấu thành tội phạm của TSKH. PGS. Lê Cảm, theo đó tội phạm được xem xét trên 3 bình diện với 5 đặc điểm cấu thành (bình diện khách quan - hành vi nguy hiểm cho xã hội; bình diện pháp lý - tính trái pháp luật hình sự; bình diện chủ quan - hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý).
Phương pháp luận chỉ đạo xuyên suốt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình triển khai, tác giả phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp hệ thống và phương pháp logic nhằm phân tích, khái quát các quy định pháp luật và xây dựng cấu thành tội phạm;
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm;
- Phương pháp so sánh pháp luật đối chiếu quy định của Việt Nam với luật hình sự của Liên bang Nga (Bộ luật Hình sự năm 1996), Cộng hòa Liên bang Đức (Bộ luật Hình sự năm 1871 sửa đổi), Nhật Bản (Bộ luật Hình sự năm 1907 sửa đổi), Malaysia (Bộ luật Hình sự), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
- Phương pháp điều tra xã hội học và phân tích thực tiễn án lệ.
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Bộ Hình thư năm 1042, Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long năm 1885, Hình luật canh cải năm 1912, các Sắc lệnh, Thông tư sau năm 1945, hai Pháp lệnh năm 1970, Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005); các bản án, quyết định hình sự của Tòa án các cấp; cùng hệ thống báo cáo tổng kết và số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn 1997 - 2006.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm 179 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, nội dung được tổ chức thành 3 chương với 8 mục chuyên sâu.
Chương 1: Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam
Chương 1 làm rõ lịch sử lập pháp, khái niệm khoa học, các dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự của tội trộm cắp tài sản qua 3 nội dung trọng tâm:
- Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam:
- Thời kỳ phong kiến: Bộ Hình thư (năm 1042 thời Lý Thái Tông) là bộ luật thành văn đầu tiên nhưng văn bản đã thất truyền. Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) quy định tội trộm cắp tại quyển 4 chương "Đạo tặc" gồm 29 điều trên tổng số 54 điều; Điều 429 phân biệt giữa "ăn trộm" (lấy tài sản ban đêm) và "ăn cắp" (lấy tài sản ban ngày); Điều 457 quy định trách nhiệm liên đới của cha mẹ đối với hành vi phạm tội của con cái. Bộ luật Gia Long (năm 1885) gồm 398 điều, dành 28 điều tại chương "Đạo tặc" kế thừa Bộ luật Hồng Đức, quy định tội trộm cắp chung tại Điều 238 và dẫn chiếu hình phạt tại Điều 239, 240; đồng thời thể chế hóa trách nhiệm đồng phạm (tính gộp giá trị tài sản tại Điều 238) và tội phạm chưa đạt (Điều 234, 238).
- Thời kỳ Pháp thuộc: Hình luật canh cải (1912) áp dụng tại Nam Kỳ định nghĩa tội trộm cắp tại Điều 379 ("Người nào dùng sự gian mà lấy đồ gì của người ta, thì phạm tội trộm cắp") và xác định các tình tiết tăng nặng tại Điều 381, 384, 385 (ban đêm, có vũ khí, phá khóa, mạo danh). Luật hình An Nam (1921) ở Bắc Kỳ và Hoàng Việt hình luật (1933, Điều 344) ở Trung Kỳ cơ bản kế thừa cấu trúc này.
- Giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám đến năm 1985: Hệ thống văn bản gồm Sắc lệnh số 26-SL (1946), Thông tư số 26-BK (1949), Thông tư số 11-BK (1949), Nghị định số 32-NĐ (1952), Thông tư số 442-TTg (1955), Sắc lệnh số 267-SL (1956), Chỉ thị số 693-HS2 (1964) và hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 (Điều 7 trừng trị tội trộm cắp tài sản XHCN và Điều 6 trừng trị tội trộm cắp tài sản công dân). Giai đoạn này đã hoàn thiện cấu thành cơ bản và tăng nặng, quy định cụ thể độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và áp dụng án treo đối với người chưa thành niên.
- Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999: Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định tách biệt Điều 132 (tài sản XHCN, hình phạt cao nhất là tử hình) và Điều 155 (tài sản công dân, hình phạt tối đa 20 năm tù), bổ sung tình tiết "hành hung để tẩu thoát". Bộ luật Hình sự năm 1999 đã hợp nhất hai tội danh vào Điều 138, định lượng mức giá trị tài sản chiếm đoạt khởi điểm từ 500.000 đồng, chia thành 4 khung hình phạt, bổ sung tình tiết tăng nặng xâm phạm tài sản Nhà nước (Điều 48) và các mức độ hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
- Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản:
- Khái niệm: Trên cơ sở so sánh pháp luật quốc tế (khuynh hướng có định nghĩa pháp lý như Điều 158 BLHS Nga, Điều 242 BLHS Đức, Điều 378 BLHS Malaysia; và khuynh hướng không định nghĩa như Điều 264 BLHS Trung Quốc, Điều 253 BLHS Nhật Bản), tác giả đưa ra định nghĩa khoa học:
"Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật."
- Khách thể và đối tượng tác động: Xâm phạm đồng thời quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được Hiến pháp năm 1992 bảo hộ. Đối tượng tác động bao gồm vật, tiền và giấy tờ có giá vô danh (loại trừ giấy tờ có giá hữu danh và sổ tiết kiệm vì người phạm tội không thể tự ý chuyển nhượng hoặc xác lập quyền sở hữu hợp pháp). Về hành vi lắp đặt thiết bị viễn thông thu cước trái phép, tác giả phân tích 5 luồng quan điểm và khẳng định hành vi này cấu thành tội trộm cắp tài sản do thỏa mãn tính chất lén lút và chiếm đoạt cước phí thuộc về Tổng công ty Bưu chính Viễn thông.
- Phân biệt với tội chiếm giữ trái phép tài sản: Tội trộm cắp tác động vào tài sản đang nằm trong sự quản lý hợp pháp của chủ sở hữu; tội chiếm giữ trái phép tác động vào tài sản đã thoát khỏi sự quản lý (bị đánh rơi, bỏ quên, trôi dạt).
- Mặt khách quan: Hành vi lấy tài sản có tính chất lén lút (che giấu đối với người quản lý tài sản). Nếu bị phát hiện mà dùng vũ lực ngay để chiếm đoạt thì chuyển hóa thành tội cướp tài sản (Điều 133); đe dọa dùng vũ lực thì cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); công khai cậy thế đông người lấy tài sản cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); dùng thẻ giả rút tiền máy ATM cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tương tự quy định Điều 263a BLHS Đức).
- Hậu quả và thời điểm hoàn thành: Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã thực tế chiếm đoạt được tài sản. Đối với tài sản nhỏ gọn, thời điểm hoàn thành tính từ khi tài sản được giấu vào người hoặc đồ vật mang theo; đối với tài sản cồng kềnh, tính từ khi đưa ra khỏi khu vực bảo quản, cất giữ; đối với tài sản ở nơi công cộng không có bảo quản riêng, tính từ khi di chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu.
- Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản: Phân tích cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự theo 4 khung hình phạt của Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ.
Chương 2: Tình hình tội trộm cắp tài sản, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm này
Chương 2 cung cấp bức tranh thực trạng tội phạm học qua số liệu xét xử sơ thẩm (XXST) giai đoạn 1997 - 2006 từ hệ thống Tòa án nhân dân:
| Ký hiệu bảng |
Nội dung thống kê số liệu xét xử sơ thẩm (1997 - 2006) |
| Bảng 2.1 |
Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội xâm phạm sở hữu từ năm 1997 đến năm 2006. |
| Bảng 2.2 |
Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản từ năm 1997 đến năm 2006. |
| Bảng 2.3 |
Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu từ năm 1997 đến năm 2006. |
| Bảng 2.4 |
Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong tổng số tội phạm từ năm 1997 đến năm 2006. |
| Bảng 2.5 |
Tỷ lệ số vụ án XXST từ năm 1997 đến năm 2006 của tội trộm cắp tài sản, tội giết người và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tổng số tội phạm. |
| Bảng 2.6 |
Tỷ lệ số bị cáo dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi và trên 30 tuổi trong số bị cáo XXST về tội trộm cắp tài sản từ năm 1997 đến năm 2006. |
| Bảng 2.7 |
Tỷ lệ về số người phạm tội trộm cắp tài sản là phụ nữ trong tổng số bị cáo từ năm 1997 đến năm 2006. |
Hệ thống 16 biểu đồ phản ánh xu hướng diễn biến của tội trộm cắp tài sản: Tỷ lệ nhân thân theo độ tuổi, giới tính, học vấn (Biểu đồ 2.6, 2.10, 2.11); tỷ lệ tiền án, tiền sự (Biểu đồ 2.8); hình thức phạm tội đồng phạm (Biểu đồ 2.9); phương thức thủ đoạn và việc sử dụng công cụ, phương tiện (Biểu đồ 2.12, 2.13); phân bố theo thời gian và không gian trong nhà/ngoài nhà (Biểu đồ 2.14, 2.15); loại tài sản và giá trị tài sản bị chiếm đoạt (Biểu đồ 2.7, 2.16).
Chương này đi sâu phân tích hệ thống nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài sản, bao gồm các nguyên nhân từ mặt trái của cơ chế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo, sự buông lỏng trong quản lý tài sản tại cơ quan, tổ chức, thiếu sót trong quản lý trật tự xã hội và công tác giáo dục đạo đức, lối sống.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản
Chương 3 trình bày các định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp phòng ngừa, xử lý tội trộm cắp tài sản:
- Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản từ nay đến năm 2015: Đánh giá quy luật biến động của tội phạm, phương thức hoạt động ngày càng tinh vi và xu hướng gia tăng việc sử dụng công nghệ cao.
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước: Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội với phòng ngừa nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh các đối tượng chủ mưu, chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm.
- Hệ thống giải pháp đấu tranh phòng chống:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các dấu hiệu định tội, định khung của Điều 138 BLHS 1999;
- Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) và các lực lượng thực thi pháp luật chuyên trách (Thanh tra, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng);
- Triển khai các biện pháp phòng ngừa xã hội, tăng cường công tác quản lý tài sản tại các cơ quan, đơn vị và tuyên truyền nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản trong quần chúng nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý:
- Phân tích, làm rõ quá trình lịch sử hình thành và phát triển của những quy định về tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám đến hai Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999;
- Phân tích, xác định bản chất và xây dựng định nghĩa khoa học mới về tội trộm cắp tài sản; làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng trong luật thực định và tiêu chí phân biệt tội trộm cắp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác;
- Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng tình hình tội trộm cắp tài sản tại Việt Nam thông qua số liệu xét xử sơ thẩm giai đoạn 1997 - 2006, đồng thời chỉ ra hệ thống nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và xử lý tội trộm cắp tài sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn trong mốc thời gian 10 năm từ năm 1997 đến năm 2006, với tầm nhìn dự báo đến năm 2015. Về mặt tội phạm học, tác giả không đi sâu vào tất cả các vấn đề liên quan mà tập trung vào tình hình, nguyên nhân, điều kiện và các biện pháp đấu tranh phòng chống. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung theo dõi thực tiễn áp dụng các quy định định lượng tài sản sau giai đoạn 2006, nghiên cứu tác động của sự phát triển công nghệ thông tin và giao dịch điện tử đối với phương thức, thủ đoạn trộm cắp tài sản mới phát sinh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về lịch sử luật hình sự, cấu thành tội phạm xâm phạm sở hữu và tội phạm học chuyên sâu;
- Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) nhằm nâng cao tính chính xác trong định tội danh, tránh nhầm lẫn giữa tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội cướp, tội cưỡng đoạt, tội công nhiên chiếm đoạt hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
- Cán bộ thuộc các cơ quan thực thi pháp luật và bảo vệ trật tự như Thanh tra, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng trong công tác phòng ngừa và phối hợp đấu tranh chống tội phạm xâm phạm sở hữu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đưa ra định nghĩa khoa học về tội trộm cắp tài sản như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật."
2. Điểm đặc thù trong quy định về tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật Hồng Đức là gì?
Bộ luật Hồng Đức quy định tội trộm cắp tại quyển 4 chương "Đạo tặc" (gồm 29 điều về trộm cắp). Điểm đặc thù là Điều 429 phân biệt hành vi "ăn trộm" (lấy tài sản ban đêm) và "ăn cắp" (lấy tài sản ban ngày) với mức hình phạt khác nhau; đồng thời Điều 457 quy định trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ bồi thường liên đới của cha mẹ đối với hành vi phạm tội của con cái khi còn ở chung nhà.
3. Tiêu chí xác định thời điểm hoàn thành của tội trộm cắp tài sản theo phân loại tài sản là gì?
- Đối với tài sản nhỏ gọn: Thời điểm hoàn thành tính từ khi người phạm tội lấy được tài sản và giấu vào trong người hoặc đồ vật mang theo.
- Đối với tài sản to lớn, cồng kềnh: Tính từ khi người phạm tội vận chuyển được tài sản ra khỏi khu vực cất giữ, bảo quản (như đưa ra khỏi nhà, cổng cơ quan hoặc hàng rào).
- Đối với tài sản để nơi công cộng không có khu vực bảo quản riêng (như xe máy để vỉa hè): Tính từ khi di chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu.
4. Luận án giải quyết vấn đề định tội danh đối với hành vi lắp đặt thiết bị viễn thông thu cước trái phép như thế nào?
Tác giả khẳng định hành vi này cấu thành tội trộm cắp tài sản vì thỏa mãn dấu hiệu lén lút (lắp đặt phòng kín, tránh kiểm tra, đảo số thuê bao), vi phạm điều cấm của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông năm 2002 và chiếm đoạt trực tiếp tiền cước phí thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông; bác bỏ các quan điểm quy kết về tội kinh doanh trái phép (Điều 159) hoặc tội vi phạm quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 172).
5. Vì sao giấy tờ có giá hữu danh và sổ tiết kiệm không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản?
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tiền, vật và giấy tờ có giá vô danh. Giấy tờ có giá hữu danh và sổ tiết kiệm gắn liền với danh tính của chủ sở hữu ghi trên giấy tờ; khi bị lấy đi, chỉ chủ sở hữu hợp pháp mới có quyền thực hiện giao dịch dân sự và chủ sở hữu hoàn toàn có khả năng làm thủ tục khôi phục lại quyền tài sản, do đó các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không bị mất đi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Hoàng Văn Hùng là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về tội trộm cắp tài sản tại Việt Nam dưới cả hai góc độ pháp lý hình sự và tội phạm học. Luận án đã khái quát tiến trình lập pháp lịch sử, xây dựng định nghĩa khoa học và làm sáng tỏ cấu thành tội phạm của Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm khắc phục các sai sót trong định tội danh thực tiễn. Đồng thời, thông qua việc tổng hợp dữ liệu xét xử sơ thẩm giai đoạn 1997 - 2006, luận án đã phân tích sâu sắc các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam.