Chương I TỘI TRỘM CÁP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. LICH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA CÁC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CÁP TÀI SẢN Nghiên cứu quy định trong luật hình sự nói chung và quy định pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trong lịch sử cho ta cái nhìn khái quát và toàn diện về quan niệm của nhà lập pháp trong chế độ xã hội khác nhau về tội phạm. hình phạt, từ đó nhận thức sâu sac va day đủ hơn về ban chất, dấu hiệu pháp lý đặc thù của tội phạm và chính sách hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội trộm cắp tài sản. Đây là bài học rất có ích cho cuộc đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trong xã hội của chúng ta ngày nay.
Các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản trong thời kỳ phong kiến Trước khi Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ) được ban hành, trong xã hội phong kiến Việt Nam đã có văn bản pháp luật hình sự nhất định, tư liệu lịch sử còn lại ngày nay ghi nhận bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta có từ đời nhà Ly (thế ky thứ XI). Đó là bộ Hình thư ra đời vào khoảng tháng 10 năm 1042 đời Lý Thái Tông. Tiếc rằng văn bản pháp luật phong kiến trước BLHĐ đều thất truyền do những nguyên nhân khác nhau, ngày nay ta hầu như không có khả năng tìm hiểu về nội dung của chúng [75, tr. BLHĐ (còn gọi là Quốc triều Hình luật) là một bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê [70, tr.
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại chương “Đạo rặc” thuộc quyển 4, gồm 54 Điều từ Điều 411 đến Điều 464. trong đó có 29 Điều quy định về tội trộm cấp tài sản [47. Nghiên cứu các quy định về tội trộm cap tài sản trong BLHD cho thấy: Thứ nhát, BLHĐ có một quy định khái quát về tội trộm cap tài san tại Điều 429: “Kẻ ăn trộm mới phạm lan đâu thì phải lưu chau xa. Kể trộm dd có tiéng và kể trộm tái phạm, thì phải tội chém.
Giữa ban ngày ăn cắp vat cũng xử tội đó”. Như vậy, Bộ luật đã có sự phân biệt giữa hành vi “ăn rrộm” và hành vi “ăn cắp”: “ăn trom” là hành vi lấy tài sản của người khác vào ban đêm. “ăn cáp” là lấy tài sản ban ngày, hình phạt cho hai trường hợp trộm cắp tài sản này hoàn toàn khác nhau. ngoài quy định khái quát về tội trộm cắp tài sản, BLHĐ còn quy định các tội trộm cắp tài sản cụ thể theo đối tượng tác động của tội phạm.
chủ thể của tội phạm, nhân thân người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội như: tội “lấy trém ấn của vua và những đồ ngự dụng, xe kiệu của vua” (Điều 430); tội “ăn trộm những đồ thờ trong lăng miéu. Trong các quy định về tội trom cắp kể trên. tội “đẩy tớ ăn trộm của chit” hoặc tội “những quân túc vệ và người hầu hạ mà ăn trộm của nhau trong cung điện” được xử nặng hơn tội trộm cắp thông thường. Những trường hợp trộm cắp giữa những người thân thuộc, con cháu lấy tài sản của bậc trưởng tộc thì được xử nhẹ.
Trường hợp đầy tớ trom cắp tài sản của chủ. nếu là đầy tớ gái thì được giảm tội. các nhà lập pháp phong kiến quan niệm tội trộm cap tài san là hành vi lấy tài sản của người khác. Do có quan niệm như vậy nên trong BLHĐ không có sự phân biệt rõ rệt tội trộm cáp tài sản với tội tham ô tài sản, tội cướp tài sản.
tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi tham 6, cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, hoạc lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong một số trường hợp nhất định được coi là trộm cắp tài sản. “Đạo sĩ, nữ quan (đàn ông hay đàn bà chuyên theo đạo), sự ni (sự tăng, ni cô)” lấy tượng than, tượng Phật trong đền chùa nơi họ cúng lễ thì xử về tội trộm cắp tài sản (Điều 433) hoặc “quan giám lâm (người trông coi việc xét án, khám nghiệm), người coi kho” lấy tài sản trong kho cũng được coi là trộm cắp tài sản. Thứ tư, hình phạt không chỉ được áp dụng đối với cá nhân người phạm tội trộm cắp tài sản, mà còn có thể được áp dụng đối với những người thân thích trong gia đình như quy định tại Điều 457: “Các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay con những tang vật ăn trộm, ăn cướp.
Nếu con đã ra ở riêng, thì cha bị xử tội phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng đã báo quan rồi mà còn để con ở nhà thì cũng xử như chưa báo”. Trong thời kỳ phong kiến ngoài BLHĐ, Bộ luật Gia Long (BLGL) cũng quy định về tội trộm cap tài sản. BLGL được ban hành năm 1885, với 398 Điều [46, tr.174], nghiên cứu quy định của BLGL về tội trộm cắp tài sản cho thấy: Thứ nhất, quy định về tội trộm cap tài san trong BLGL đã kế thừa quy định của BLHD. Giống như trong BLHĐ, quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLGL được quy định tập trung tại chương “Dao tdc” với 28 Điều.
Trong BLGL cũng có một quy định chung về tội trộm cap tài sản tại Điều 238. Ngoài quy định trên còn quy định các tội trộm cap tài sản cụ thể theo đối tượng tác động. chủ thể của tội phạm. nhân thân người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội như: tội “dn trộm những đồ vật thờ thân.
Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp hình sự, BLGL có những phát triển đáng kể trong quy định về tội trộm cap tài sản. Điều 238 quy định chung về tội trộm cắp tài sản. Các điều luật khác quy định về các tội trộm cắp cụ thể đều quy chiếu về hình phạt của Điều luật này, như Điều 239 quy định: “Phàm kẻ ăn trộm trâu, ngựa, súc sản, đêu tính tang của, lấy luật xử tội thiết đạo (Điều 238) mà xiv’; Điều 240 quy định: “Phàm ăn trộm thóc lúa, hoa quả ngoài đồng, hay là những dé vật không có người coi giữ, déu tinh tang (vật) chuẩn vào tội thiết dao (Điều 238) mà xử”. BLGL đã có những quy định về đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản.
Trong trường hợp đồng phạm trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được tính gộp lại và những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm chung về tội phạm. Điều 238 quy định: “Là như 10 người cùng ăn trộm của cdi một nhà, tính tang của (giá trị tang vật) đến 40 lạng bạc dâu chia nhau, mỗi người được 4 lạng, nhưng mà tính gdm mot chô, thì 10 người đều phải tội tang ăn trộm 40 lạng”. Ngoài quy định liên quan đến đồng phạm, BLGL có quy định sơ bộ về giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản. Điều 234 quy định: “Phàm người thường (người ngoài, không phải là người coi kho) ăn trộm tiền lương, các vật của kho tàng không lay được của thì phải 60 trượng” hoặc quy định tại Điều 238: “Pham kể đã di ăn trộm mà không lấy được của, thì phải 50 roi.
Các quy định cua luật hình sự Việt nam về tội trộm cap tài san trong thời Pháp thuộc Dưới thời Pháp thuộc. thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để tri”, chia đất nước Việt Nam làm ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau, tương ứng với hoàn cảnh xã hội đặc biệt này có những văn bản pháp luật hình sự khác nhau được áp dung tại các địa phận Nam ky, Bắc ky va Trung kỳ. Ở Nam kỳ, Sac luật ngày 31 tháng 12 năm 1912 của toàn quyền Đông Duong sửa đổi 56 Điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cai (Code pénal modifié) và áp dung tại Nam ky; ở Bắc kỳ, Nghị định ngày 2 tháng 12 năm 1921 của toàn quyền Đông Dương cho áp dụng Luật hình An Nam. Ở Trung kỳ, bang Du số 43 ngày 31 tháng 7 năm 1933 của Bảo Đại, Hoàng Việt hình luật được ban hành [98, tr.
Nghiên cứu Hình luật canh cải (HLCC) cho thấy: Thứ nhất, HLCC tuy được biên soạn theo Bộ luật hình Pháp nhưng đã kế thừa một số nội dung hợp lý của các Bộ luật hình phong kiến trước đây khi quy định về tội trộm cắp tài sản. Các tội trộm cắp tài sản cụ thể được quy định căn cứ vào đối tượng tài sản bị chiếm đoạt và hoàn cảnh phạm tội bao gồm: tội trộm cắp đồ thờ cúng (Điều 386); tội trộm cắp trâu, bò, (hoặc) gia súc khác (Điều 388); tội trộm cắp cá ở ao, hồ (Điều 388); tội trộm cáp lúa má ngoài đồng (Điều 388); tội của chủ quán com, chủ khách sạn, người đưa xe, người chở ghe trộm cap tài sản của khách (Điều 386); tội đầy tớ trộm cap tài sản của khách (đến) nhà chủ (Điều 386); tội ông, bà, cha, me, vợ, chồng, con, cháu trộm cap tài sản của nhau (Điều 380) và tội đàn ông god vợ hoặc đàn ba goa chồng trộm cấp tài sản của vợ hoặc chồng đã chết (Điều 380). Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp hình sự, HLCC có bước phát triển đáng kể so với các Bộ luật hình sự phong kiến trước đây, bởi lẽ có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản tại Điều 379: “Người nào dàng sự gian mà lấy đồ gì của người ta, thì phạm tội trộm cắp”. Bộ luật còn quy định các tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự của tội trộm cắp tài sản tại các Điều 381, 384, 385.
Đó là các tình tiết: a. Trộm cap tài sản ban đêm: b. Trộm cap tài sản có từ hai người trở lên 13 tham gia: c. Trộm cap tài sản có cầm khí giới hay giấu khí giới trong người: d.
Trột cap tài sản có phá cửa, trèo tường hoặc dùng chìa khoá giả, vào trong nha, tron phòng có người ở hoặc là dùng để ở. hoặc mạo xưng chức vụ hoặc giả mạo quầ áo hoặc giả mạo giấy tờ của quan văn, quan võ; đ. Trộm cap tài sản có hành \ cưỡng hiếp hoặc ham doa với khí giới đang cầm. Hình luật An Nam và Hoàng Việt luật lệ hầu như sao chép những quy địn về tội trộm cáp tài sản trong HLCC.