Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về tăng trưởng thương mại nhưng đồng thời phải đối mặt với tình trạng buôn lậu diễn biến phức tạp. Hành vi buôn lậu xâm hại trật tự quản lý ngoại thương, gây thất thu ngân sách nhà nước, triệt tiêu động lực cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp sản xuất chân chính, đe dọa an ninh biên giới và tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng trong bộ máy công quyền.
Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang là địa bàn biên giới đầu nguồn sông Tiền giáp với Vương quốc Campuchia, sở hữu Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương cùng mạng lưới giao thông thủy - bộ thuận lợi. Lợi dụng đặc điểm địa lý và chênh lệch giá cả hàng hóa, các đối tượng tội phạm đã tổ chức nhiều đường dây buôn lậu tinh vi, chuyên nghiệp. Trong khi đó, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu tại địa phương còn bộc lộ nhiều vướng mắc. Từ bối cảnh thực tiễn này, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp xử lý tội buôn lậu tại địa bàn.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn lậu, phân tích thực trạng tình hình tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, qua đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý.
Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về tội buôn lậu theo quy định của pháp luật, trọng tâm là Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình buôn lậu tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2018 - 2019.
- Xác định những bất cập và đề xuất các kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về tội buôn lậu và thực tiễn thi hành tại địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đối tượng nghiên cứu là tội buôn lậu trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn tại thị xã Tân Châu. Phạm vi không gian đặt tại địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu khảo sát giai đoạn 2018 - 2019. Phạm vi nội dung tập trung vào các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối chiếu với Bộ luật Hình sự năm 1999 và các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế liên quan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự và chuyên ngành của Việt Nam. Trọng tâm pháp lý là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các điều khoản nòng cốt: Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 17 (đồng phạm), Điều 52 (tình tiết tăng nặng), Điều 74 và Điều 75 (trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại), Điều 79 (đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), Điều 188 (tội buôn lậu), cùng các điều khoản so sánh gồm Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm). Ngoài ra, khóa luận viện dẫn Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 97), Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 153), Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Di sản văn hóa năm 2013, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP), Thông tư số 219/2013/TT-BTC, Thông tư số 93/2010/TT-BTC, Pháp lệnh Cảnh sát nhân dân năm 1962 và Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu năm 1982.
Cơ sở lý luận của khóa luận kế thừa các giáo trình và công trình khoa học chuyên khảo: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội; sách bình luận khoa học của nhóm tác giả Phùng Thế Vắc, Trần Văn Luyện, Lê Văn Thư; tài liệu của tác giả Phạm Văn Bèo, Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng, Nguyễn Xuân Yêm; cùng các luận án, luận văn liên quan của Nguyễn Đức Bình (2000), Nguyễn Thùy Trang (2016), Phạm Văn Hoan (2019).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Áp dụng tại Chương 1 nhằm phân tích, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, công trình nghiên cứu lịch sử pháp luật từ năm 1945 đến nay.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để làm rõ 4 yếu tố cấu thành tội buôn lậu và đánh giá các vụ việc thực tế tại Tân Châu.
- Phương pháp so sánh: Vận dụng tại Chương 2 để phân biệt tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội buôn bán hàng cấm; tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; phân biệt buôn lậu với gian lận thương mại; so sánh quy định giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và năm 2015.
- Phương pháp tổng hợp: Rút ra các kết luận pháp lý, khái niệm khoa học và nhóm giải pháp hoàn thiện ở cuối mỗi chương.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ báo cáo của Ban chỉ huy Bến xe tàu Thị xã Tân Châu, Cổng thông tin điện tử Thị xã Tân Châu, Báo An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, Đài Truyền thanh Thị xã Tân Châu, Báo Sài Gòn Giải Phóng và số liệu thống kê của Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về tội buôn lậu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, tác hại và quá trình phát triển của quy định pháp luật về tội buôn lậu. Tác giả đưa ra định nghĩa: Tội buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật; do người hoặc pháp nhân thương mại có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm mục đích kiếm lời.
Bốn đặc điểm pháp lý cơ bản của tội buôn lậu gồm:
- Hành vi khách quan diễn ra qua biên giới quốc gia hoặc ranh giới giữa khu phi thuế quan và nội địa.
- Chủ thể thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; không tồn tại lỗi cố ý gián tiếp.
- Động cơ và mục đích bắt buộc là thu lợi nhuận bất chính thông qua trốn thuế hoặc hưởng chênh lệch giá.
- Khách thể bị xâm phạm là trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương và trật tự an toàn, an ninh biên giới.
Về mặt lịch sử lập pháp, tác giả chia quá trình phát triển thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1945 đến trước 1985: Khái niệm buôn lậu xuất hiện trong Pháp lệnh Cảnh sát nhân dân năm 1962 và Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 nhưng chưa được hướng dẫn đầy đủ về cấu thành tội phạm.
- Giai đoạn 1985 đến 1999: Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu ghi nhận chính thức tội danh này tại Điều 97, xếp vào chương "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia".
- Giai đoạn 1999 đến 2015: Bộ luật Hình sự năm 1999 tách riêng tội buôn lậu (Điều 153) và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), chuyển sang nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
- Giai đoạn 2015 đến nay: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội buôn lậu tại Điều 188 với các điểm mới nổi bật: bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể phạm tội; mở rộng phạm vi địa lý sang khu phi thuế quan; loại bỏ đối tượng "hàng cấm" khỏi cấu thành Điều 188 để xử lý riêng tại Điều 190; cụ thể hóa đối tượng vật phẩm lịch sử thành di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hình sự về tội buôn lậu
Chương 2 tập trung phân tích 4 dấu hiệu pháp lý cấu thành tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Khách thể: Trật tự quản lý nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật và an ninh biên giới.
- Mặt khách quan: Hành vi trao đổi, buôn bán trái phép các đối tượng nêu trên qua biên giới hoặc qua ranh giới khu phi thuế quan. Dấu hiệu định lượng cấu thành cơ bản đòi hỏi giá trị hàng phạm pháp từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; trường hợp dưới 100.000.000 đồng phải thỏa mãn điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có tiền án về nhóm tội kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 188, hoặc tang vật là di vật, cổ vật.
- Chủ thể: Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về tội này theo Điều 12) và pháp nhân thương mại đáp ứng các tiêu chí quy định tại Điều 75.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích thu lợi bất chính.
Về chế tài hình phạt, tác giả phân tích chi tiết:
- Đối với cá nhân: Khung hình phạt cơ bản tại khoản 1 phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khoản 2 áp dụng mức phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với các tình tiết: phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, bảo vật quốc gia, lợi dụng chức vụ quyền hạn.
- Đối với pháp nhân thương mại: Quy định tại khoản 6 Điều 188, mức phạt tiền khởi điểm từ 300.000.000 đồng đến hàng tỷ đồng, kèm theo biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn (từ 06 tháng đến 03 năm) hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo Điều 79.
Chương này cũng phân định ranh giới giữa tội buôn lậu và các tội danh lân cận:
- So sánh với Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189): Tội buôn lậu gắn liền với hoạt động mua bán nhằm mục đích kiếm lời từ chênh lệch giá; tội vận chuyển trái phép chỉ thực hiện hành vi chuyển dịch hàng hóa thuê qua biên giới mà không có mục đích mua đi bán lại.
- So sánh với Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190): Hành vi buôn bán hàng cấm qua biên giới hiện nay bị truy cứu theo Điều 190, không còn cấu thành tội buôn lậu như thời điểm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999.
- So sánh với Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191): Khác biệt về phạm vi không gian (Điều 191 diễn ra trong nội địa) và tính chất đối tượng tác động (chỉ bao gồm các loại hàng cấm do Nhà nước quy định).
- Phân biệt với hành vi gian lận thương mại: Buôn lậu mang tính lén lút, né tránh cửa khẩu hoặc giấu giếm hàng hóa trái phép; gian lận thương mại diễn ra công khai thông qua thủ tục hải quan hợp pháp nhưng dùng mánh khóe khai sai tên hàng, chủng loại, số lượng, trị giá, xuất xứ để trốn thuế.
Chương 3: Những bất cập và giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về tội buôn lậu tại Thị xã Tân Châu tỉnh An Giang
Chương 3 trình bày các nét đặc trưng về tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Tân Châu: nằm ở phía bắc tỉnh An Giang, đường biên giới giáp tỉnh Kandal (Campuchia) dài 6,33 km, dân số trung bình 172.088 người, mật độ 974 người/km2, gồm 14 đơn vị hành chính (5 phường: Long Thạnh, Long Hưng, Long Châu, Long Phú, Long Sơn; 9 xã: Phú Lộc, Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa, Tân An, Long An, Tân Thạnh, Châu Phong, Phú Vĩnh, Lê Chánh). Tăng trưởng GRDP năm 2019 đạt 8,18%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt trên 7.500 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu qua Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương ước đạt trên 600 triệu USD.
Tác giả tổng hợp số liệu thực tế về công tác đấu tranh chống buôn lậu tại Tân Châu giai đoạn 2018 - 2019:
| Tiêu chí |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Số vụ buôn lậu bắt giữ |
219 vụ (giảm 180 vụ so với 2017) |
299 vụ |
| Tổng giá trị hàng hóa ước tính |
Gần 1 tỷ 150 triệu đồng |
Gần 1 tỷ 340 triệu đồng |
| Mặt hàng vi phạm chủ yếu |
Thuốc lá điếu ngoại, đường cát, thuốc tân dược, gỗ |
Gỗ thành phẩm, bia, thuốc lá, đường cát, xoài keo Campuchia |
Hai vụ việc buôn lậu lớn được tác giả phân tích chi tiết:
- Vụ thứ nhất: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 29/7/2019, lực lượng công an phát hiện xe tải biển kiểm soát 67C-096.48 do tài xế Lê Thanh Hiệp (sinh năm 1982, ngụ phường Long Hưng, thị xã Tân Châu) điều khiển có dấu hiệu nghi vấn. Khi bị yêu cầu dừng xe, đối tượng bỏ chạy đến xã Long Hòa, huyện Phú Tân mới bị chặn giữ; tang vật thu giữ gồm 26.500 bao thuốc lá ngoại nhập lậu.
- Vụ thứ hai: Hồi 00 giờ 30 phút ngày 21/8/2019, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thị xã Tân Châu phối hợp lực lượng 389 kiểm tra Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hòa Phát Tân Châu (tại ấp 3, xã Vĩnh Xương). Cơ quan chức năng bắt quả tang hành vi đổ đường lậu vào bồn kim loại nhằm sang chiết, thay đổi bao bì; tổng tang vật thu giữ gần 20 tấn đường cát nhập lậu không hóa đơn chứng từ, trị giá gần 240 triệu đồng.
Khóa luận chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến buôn lậu tại địa bàn:
- Vị trí địa lý thuận lợi: Tuyến biên giới 6,33 km có địa hình bằng phẳng, nhiều đường mòn; lòng sông Tiền rộng, tầm nhìn xa; mùa nước nổi từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm tạo điều kiện cho xuồng máy nhỏ vận chuyển hàng lậu qua đồng tràn.
- Nhu cầu tiêu dùng và thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người tại Tân Châu đạt 45 triệu đồng/người/năm; người dân có tâm lý chuộng hàng giá rẻ hơn hàng sản xuất trong nước.
- Siêu lợi nhuận: Chênh lệch giá thuốc lá lậu rất lớn (thuốc lá Hero chênh lệch 8.000 đồng/bao; Jet chênh lệch 10.000 đồng/bao; Esse chênh lệch 3.000 đồng/bao). Thống kê của Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) cho thấy từ năm 2018 đến tháng 9/2019 có trên 800.000 tấn đường nhập lậu vào Việt Nam, nhưng lực lượng chức năng cả nước chỉ bắt giữ được khoảng 3.000 tấn.
- Bất cập trong thực thi và xử lý: Tỷ lệ xử lý hình sự rất thấp; trong hai năm 2018 - 2019, các cơ quan chức năng tại Tân Châu bắt giữ 518 vụ buôn lậu nhưng chỉ khởi tố 01 vụ, phần lớn chỉ xử phạt vi phạm hành chính khiến các đối tượng tiếp tục tái phạm.
- Hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại khu vực biên giới.
Dựa trên thực trạng, tác giả kiến nghị các nhóm giải pháp: sửa đổi, hướng dẫn cụ thể các bất cập về định lượng giá trị hàng phạm pháp trong Điều 188; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng; nâng cao tỷ lệ điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự thay vì xử lý hành chính; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và tạo sinh kế ổn định cho cư dân vùng biên.
Kết quả và đóng góp
Về mặt dữ liệu thực chứng, khóa luận tổng hợp bức tranh buôn lậu tại thị xã Tân Châu giai đoạn 2018 - 2019 với 518 vụ bắt giữ (219 vụ năm 2018 và 299 vụ năm 2019). Tác giả làm rõ nghịch lý giữa số vụ bắt giữ lớn và tỷ lệ xử lý hình sự khi chỉ có duy nhất 01 vụ bị khởi tố trong suốt hai năm. Công trình cung cấp các số liệu thực tế về phương thức sang chiết, thay đổi bao bì đường lậu (vụ án 20 tấn đường tại Công ty TNHH XNK Hòa Phát Tân Châu) và vận chuyển thuốc lá ngoại quy mô lớn (26.500 bao trên xe tải 67C-096.48).
Về mặt lý luận, khóa luận hệ thống hóa toàn diện các giai đoạn phát triển của pháp luật hình sự về tội buôn lậu từ năm 1945 đến nay. Tác giả phân tích rõ nét cấu thành pháp lý theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đặc biệt là việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, phạm vi khu phi thuế quan và việc tách hành vi buôn bán hàng cấm sang Điều 190. Khóa luận xây dựng các tiêu chí phân biệt rành mạch giữa buôn lậu với vận chuyển trái phép qua biên giới, tội phạm hàng cấm và hành vi gian lận thương mại.
Về mặt thực tiễn, tác giả đưa ra các giải pháp khắc phục kẽ hở pháp luật, nâng cao năng lực phối hợp kiểm soát của lực lượng liên ngành 389 và đề xuất giải quyết việc làm nhằm giảm thiểu tình trạng cư dân biên giới tiếp tay cho buôn lậu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ tốt nghiệp đại học nên nguồn lực nghiên cứu thực địa còn giới hạn. Dữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2 năm (2018 - 2019) tại địa bàn một thị xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, do đó chưa bao quát được toàn diện các phương thức buôn lậu trên các tuyến biên giới đường bộ khác hoặc tuyến đường biển. Đồng thời, do quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại mới có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2018 nên khóa luận chưa thu thập được bản án hình sự thực tế nào áp dụng đối với pháp nhân thương mại buôn lậu tại địa bàn.
Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm việc theo dõi thực tiễn áp dụng Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn dài hơn, mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh trên toàn tuyến biên giới Tây Nam và khảo sát chuyên sâu án lệ, thực tiễn xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên ngành Luật, đặc biệt là chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Hình sự, trong việc tìm hiểu cấu thành tội phạm và kỹ thuật lập pháp của Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung so sánh giữa tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và hành vi gian lận thương mại tại Chương 2 mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho cán bộ làm công tác định tội danh và xử lý vi phạm.
Bên cạnh đó, các số liệu thực tế về phương thức buôn lậu đường cát, thuốc lá ngoại và số liệu thống kê bắt giữ tại Chương 3 cung cấp tư liệu tham khảo cho lực lượng chức năng tại địa phương (Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thị xã Tân Châu, Bộ đội Biên phòng) trong công tác nghiệp vụ và xây dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận xác định dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của tội buôn lậu là gì?
Khóa luận chỉ rõ tội buôn lậu bắt buộc phải được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; không có trường hợp buôn lậu nào xảy ra do lỗi cố ý gián tiếp hay vô ý. Đồng thời, mục đích phạm tội là dấu hiệu cần thiết trong cấu thành: người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích buôn bán kiếm lời và thu lợi bất chính từ việc trốn thuế hoặc chênh lệch giá cả.
Đối tượng tác động của tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 khác gì so với Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999?
Bộ luật Hình sự năm 2015 giữ nguyên các đối tượng: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. Tuy nhiên, luật mới đã bãi bỏ "hàng cấm" ra khỏi cấu thành tội buôn lậu để chuyển sang xử lý theo Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); đồng thời cụ thể hóa khái niệm "vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa" thành "di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia".
Tỷ lệ xử lý hình sự đối với các vụ việc buôn lậu bị bắt giữ tại thị xã Tân Châu trong hai năm 2018 - 2019 diễn ra như thế nào?
Theo số liệu từ Báo cáo của Ban chỉ huy Bến xe tàu Thị xã Tân Châu được trích dẫn trong khóa luận, trong hai năm 2018 - 2019, các lực lượng chức năng đã bắt giữ tổng cộng 518 vụ buôn lậu (219 vụ năm 2018 và 299 vụ năm 2019), nhưng cơ quan điều tra chỉ khởi tố hình sự duy nhất 01 vụ án, số vụ còn lại chủ yếu bị xử lý bằng biện pháp hành chính.
Vụ buôn lậu đường cát tại Công ty TNHH XNK Hòa Phát Tân Châu có phương thức hoạt động như thế nào?
Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 21/8/2019, lực lượng chức năng bắt quả tang các đối tượng vận chuyển đường cát từ biên giới về bồn chứa kim loại của công ty tại xã Vĩnh Xương, cắt miệng bao bì mang nhãn hiệu nước ngoài để đổ vào bồn nhằm sang chiết, thay thế bao bì nội địa để đưa đi tiêu thụ. Tang vật thu giữ gồm 3 bồn chứa với gần 20 tấn đường cát nhập lậu không hóa đơn chứng từ, ước trị giá gần 240 triệu đồng.
Yếu tố tự nhiên nào tại thị xã Tân Châu tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng buôn lậu hoạt động?
Thị xã Tân Châu có đường biên giới giáp Campuchia dài 6,33 km với địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều đường mòn, lối mở, hệ thống kênh rạch chằng chịt và đoạn sông Tiền tại xã Vĩnh Xương có lòng sông rộng. Đặc biệt, vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, nước lũ tràn đồng tạo điều kiện cho các đối tượng sử dụng xuồng máy nhỏ dễ dàng chở hàng lậu qua biên giới vào sâu trong nội địa.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kiều Hoa đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và quá trình phát triển lập pháp từ năm 1945. Nghiên cứu phản ánh sát thực trạng buôn lậu tại địa bàn biên giới thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang giai đoạn 2018 - 2019, chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa số vụ bắt giữ thực tế và số vụ xử lý hình sự. Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và đấu tranh phòng ngừa tội phạm kinh tế tại vùng biên giới Tây Nam.