Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về đồng phạm trong tội gây rối trật tự công cộng Chương 2: Thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Hải Dương và kiến nghị giải pháp. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Một số vấn đề lý luận 1. Khái niệm đồng phạm trong luật hình sự Theo Từ điển tiếng Việt, “Đồng” nghĩa là cùng như nhau, không khác được.
“Phạm” là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh. “Đồng phạm” nghĩa là cùng nhau phạm tội hiểu theo nghĩa của Luật Hình sự1. Tiến sĩ Trần Quang Tiệp và Tiến sĩ Nguyễn Trung Thành có cùng quan điểm về khái niệm đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm”2. Tác giả cũng đồng tình với quan điểm nêu trên của hai nhà nghiên cứu luật học.
Tuy nhiên, BLHS năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận chủ thể của tội phạm không chỉ là thể nhân mà còn bao gồm cả pháp nhân thương mại. Điều này đặt ra vấn đề cần giải quyết đó là liệu giữa các pháp nhân thương mại hoặc giữa pháp nhân thương mại với thể nhân có thể là đồng phạm trong vụ án hình sự hay không? Theo tác giả, trong khái niệm về đồng phạm nêu trên chỉ đề cập đến con người cụ thể mà không đề cập đến chủ thể là pháp nhân thương mại là không phù hợp với chủ thể của tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo tác giả, có thể đưa ra khái niệm đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai chủ thể tội phạm trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm”3. Từ khái niệm của đồng phạm đã phân tích nêu trên, có thể rút ra được một số đặc điểm của đồng phạm như sau: 1 Đào Duy Anh (1932), Hán việt Từ điển, NXB.
Lê Văn Tân, Hà Nội, tr. 245 2 Trần Quang Tiệp (2000), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Tr.31 3 Nguyễn Đình Thanh (2022), Chế định đồng phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 9 7 - Một là, chủ thể của tội phạm trong vụ đồng phạm thường nhiều hơn các vụ án đơn lẻ, điều này được thể hiện ngay trong khái niệm của đồng phạm quy định trong BLHS đã khẳng định “có từ hai người trở lên”. Đây là đặc điểm dấu hiệu định lượng xác định rõ số lượng người và số lượng tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm.
Theo đó, số lượng người thực hiện tội phạm trong vụ án đồng phạm phải có ít nhất từ hai người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm. - Hai là, trong đồng phạm thì tính chất phối hợp giữa những người đồng phạm là tương đối chặt chẽ, khác với các trường hợp tội phạm do nhiều người thực hiện nhưng không phải là đồng phạm. Những người đồng phạm cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nghĩa là giữa họ có sự liên kết thống nhất về ý thức cùng phạm tội, có mối liên hệ tác động tương hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau về mặt tâm lý, có sự thống nhất về hành vi của mỗi người, tác động qua lại với nhau. Hành vi của người đồng phạm này bổ sung cho người đồng phạm khác, và hành vi của mỗi người đều là một khâu quan trọng trong hoạt động tội phạm chung của cả nhóm.
- Ba là, hậu quả của các vụ đồng phạm là kết quả chung do hoạt động phạm tội của những người đồng phạm gây ra. Đặc điểm này có nghĩa là hành vi riêng biệt của mỗi người đồng phạm đều có quan hệ nhân quả với hậu quả chung của tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm. Tuy nhiên, hành vi của mỗi người đồng phạm có thể có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với hậu quả của tội phạm, không đồng nhất về vai trò với nhau. - Bốn là, đồng phạm thường có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hình thức phạm tội riêng lẻ.
Đây là đặc điểm dấu hiệu định tính xác định tính nguy hiểm của đồng phạm. Chính từ đặc điểm của đồng phạm là do nhiều người thực hiện và giữa những người đồng phạm có sự phối hợp tương đối chặt chẽ trong việc cùng thực hiện một tội phạm chung quyết định đến tính nguy hiểm của đồng phạm. Trong đồng phạm, có sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp giữa những người đồng phạm, có sự dựa dẫm vào nhau về mặt tâm lý nên quyết tâm phạm tội 8 thường là cao hơn so với các trường hợp phạm tội riêng lẻ, cho phép chúng không chỉ thực hiện tội phạm một cách dễ dàng hơn, mà trong nhiều trường hợp có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hơn, dễ dàng che giấu dấu vết của tội phạm để tránh khỏi sự phát hiện, điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng Theo Từ điển Luật học:“Gây rối trật tự công cộng là hành vi vi phạm quy tắc xử sự được đặt ra cho mỗi công dân ở nơi công cộng, xâm phạm tình trạng ổn định của sinh hoạt chung xã hội”4.
Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân: Gây rối trật tự công cộng là hành vi gây mất trật tự nơi công cộng hoặc hành vi càn quấy, hành hung người khác, gây lộn xộn trên đường phố, ở công viên, rạp hát vườn hoa. Gây rối trật tự công cộng xâm hại đến trật tự chung, vi phạm nếp sống văn minh và hoạt động bình thường của mọi người5. Về cơ bản nội hàm của khái niệm đã đưa ra một số cách thức thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và hậu quả của hành vi gây rối là gây mất trật tự công cộng, xâm hại đến nếp sống văn minh, xâm hại trật tự chung và hoạt động tại một số địa điểm công cộng. Tuy nhiên, mức độ khái quát của khái niệm chưa bao quát hết phạm vi của hành vi gây rối, việc chi tiết một số cách thức thực hiện hành vi gây rối mới chỉ tập trung vào diện cách thức thực hiện có sử dụng các hành động mang tính chất vũ lực, càn quấy.
Để khái quát gây rối trật tự công cộng ở mức độ chung nhất, có thể định nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng theo khái niệm sau đây: “Gây rối trật tự công cộng là hành vi cố ý thực hiện các hành động, cách thức tác động trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm trật tự công cộng vi phạm các quy định của pháp luật và các quy tắc bảo đảm bảo trật tự công cộng, phá vỡ tính ổn định của trật tự công cộng, gây cản trở, ngưng trệ, gián đoạn, rối loạn các hoạt động công cộng, làm mất trật tự công cộng, xâm phạm tài sản, danh dự, sức khỏe, tính mạng và các lợi 4 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, NXB. 282 5 Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 9 ích hợp pháp của người khác tại nơi công cộng”6.
Xét trên phạm vi rộng, gây rối trật tự công cộng biểu hiện cho các tác động bất lợi đến trật tự công cộng, gây thiệt hại cho các mối quan hệ xã hội, các hoạt động xã hội bao gồm cả tài sản, danh dự, sức khỏe, tính mạng và các lợi ích hợp pháp của người khác tại nơi công cộng. Hành vi gây rối trật tự công cộng vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự công cộng tại các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống các quy tắc công cộng khác được cộng đồng dân cư thừa nhận, tôn trọng. Trong đó, nơi công cộng được xác định là những công trình, địa điểm, phương tiện được xây dựng, sử dụng cho nhu cầu chung của cộng đồng dân cư và xã hội. Bao gồm các công trình, địa điểm, phương tiện dùng để cung cấp dịch vụ công cộng, ăn, uống, vui chơi, giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể thao, thăm quan, thắng cảnh, phục vụ nhu cầu đi lại, giáo dục, đào tạo, tôn giáo, tín ngưỡng, y tế, bưu chính.
Mức độ thiệt hại đôi khi không thể đo đếm được, nhất là hành vi gây rối trật tự công cộng diễn ra tại nơi công cộng đang tập trung đông người và đang diễn ra nhiều dạng hoạt động khác nhau. Hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng được xem xét ở mức độ tương đối bằng việc cản trở, ngưng trệ, gián đoạn, rối loạn các hoạt động công cộng, gây mất trật tự công cộng đồng thời gây thiệt hại ở mức độ nhất định đối với những người đang có mặt tại nơi diễn ra hành vi gây rối. Từ những phân tích trên, dưới góc độ lý luận, khái niệm tội gây rối trật tự công cộng có thể được hiểu như sau: “Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây rối trật tự công cộng do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm hại đến mức làm rối loạn hoặc làm mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm và đáng bị xử lý bằng hình sự”7. 6 Vũ Thế Công (2023), Phòng ngừa tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.
30 7 Vũ Thế Công (2023), Phòng ngừa tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.