CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT 1. Lý luận chung, các dấu hiệu pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật Là một loại tội phạm nên về bản chất tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thống nhất với bản chất được nêu trong khái niệm chung cơ bản như các tội phạm khác đó là: (1) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; (2) do chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; (3) được thực hiện với lỗi vô ý hoặc cố ý, đối với tội này thuộc trường hợp lỗi cố ý; (4) xâm phạm đến mối quan hệ được PLHS bảo vệ.
Về bản chất của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật không khác với bản chất của tội phạm chung theo khái niệm trên, theo đó điểm đặc trưng làm cơ sở để xây dựng khái niệm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật bao gồm: 1) hành vi bắt, giữ, hoặc giam người; 2) tính trái pháp luật của hành vi. Tính trái pháp luật của hành vi này được thể hiện rõ thông qua việc trực tiếp vi phạm các quy định của BLTTHS về bắt, giữ hoặc giam người. Pháp luật cho phép bắt, giữ hoặc giam người trong các trường hợp sau: (1) Bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, trường hợp khẩn cấp hoặc đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; (2) Giữ người trong trường hợp phạm tội quả tang, giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong thời hạn pháp luật cho phép là 12 giờ; (3) Giam người trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, cũng có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, 16 ít nghiêm trọng nhưng thuộc vào các trường hợp: (a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; (b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch bị can;(c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; (d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm; (đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân tích của những người này. Hoặc thuộc trường hợp tạm giữ người theo thủ tục hành chính theo quy định của Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 ( sửa đổi bổ sung năm 2020).
Ngoài các trường hợp trên thì hành vi bắt, giữ hoặc giam người khác đều thuộc trường hợp trái pháp luật. Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật như sau: “ Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi ngăn cản, tước đoạt sự tự do dịch chuyển thân thể của người khác trái với quy định của pháp luật”. Như vậy có thể nói tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau: (1) Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 157 BLHS, xâm phạm đến quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người khác là khách thể được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; (2) Tội phạm do người có năng lực chịu TNHS và đủ 16 tuổi trở lên thực hiện với lỗi cố ý; (3) Nhằm khống chế, ngăn cản và kiểm soát, tước đoạt quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người khác. Các dấu hiệu pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật Khách thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người, của công dân.
Hành vi bắt, 17 giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của người khác được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định” [33]. Đối tượng tác động của tội phạm này là con người, mà cụ thể là con người bị bắt, bao gồm cả người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch cư trú tại Việt Nam được pháp luật Việt Nam bảo hộ.
Mặt khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được thực hiện dưới 03 dạng hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là việc thực hiện các hành vi cản trở, hạn chế, khống chế, kiểm soát nhằm ngăn chặn hoặc tước đoạt quyền tự do cá nhân, tự do bất khả xâm phạm về thân thể của người khác. Tội phạm này có cấu thành phức hợp, mặt khách quan của tội phạm mô tả ba hành vi gồm bắt, giữ hoặc giam, các hành vi này được thực hiện một cách có ý thức và tồn tại trong thực tế khách quan và trái với quy định của pháp luật. Tội phạm được xem là hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả pháp lý trong trường hợp này là các hành vi khống chế, kiểm soát người khác như bắt, giữ hoặc giam người khi không được pháp luật cho phép đã tác động xâm hại trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do đi lại của cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Mặt chủ quan của tội phạm bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, người thực hiện hành vi phạm tội biết hành vi bắt, giữ hoặc giam người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Động cơ, mục đích của tội phạm này thường rất đa dạng, phức tạp có thể vì mục đích cá nhân để 18 chiếm đoạt tài sản, có thể để trả thù hoặc vì mục đích phi vật chất khác. Tuy nhiên động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Chủ thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là bất kỳ ai đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ điều khiển hành vi.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Lý luận về định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật 1. Khái niệm định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật Định tội danh là một trong những biện pháp đưa BLHS vào đời sống xã hội, là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong BLHS. Nói các khác, định tội danh là việc xác định một hành vi cụ thể đã được thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) của tội nào trong số các tội phạm quy định trong BLHS.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nói riêng, để đảm bảo được việc xác định tội phạm và truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, trước hết các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành định tội danh, việc định tội danh là bước đầu tiên để xác định TNHS của người phạm tội, từ đó mới thực hiện được việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt cho phù hợp. Theo đó các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP nào trong số các CTTP được quy định trong BLHS. Để thực hiện 19 tốt hoạt động định tội danh trước hết cần phải hiểu rõ, chính xác khái niệm về định tội danh. Hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề định tội danh cụ thể: Theo khoa học luật hình sự Việt Nam trong “ Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự”, TSKH Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa có tính mô tả, chỉ dẫn hoạt động cũng như yêu cầu và ý nghĩa của việc định tội danh như sau: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự, và được tiến hành bằng cách, trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hoá và phân hoá TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”.
Lê Văn Đệ đưa ra định nghĩa: “ Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP được pháp luật hình sự quy định”. [21] Theo quan điểm của Tiến sỹ Dương Tuyết Miên thì: “ Định tội danh là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng ( Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì tội đó là tội gì, theo điều nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã được thực hiện ”.