Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM CƯỚP TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội cướp tài sản. Khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại Điều 8 BLHS quy định nội hàm về tội phạm, cụ thể: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Điều 8 BLHS được coi là nội hàm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam; là cơ sở thống nhất cho việc xác định những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam và xác định những tội phạm cụ thể.
Nội hàm của tội phạm cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản và được quy định tại Điều 168 của BLHS. Đặc điểm Tội cướp tài sản có những đặc điểm cơ bản: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi tội phạm cướp tài sản là hành vi trực tiếp dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực xâm phạm đến quyền nhân thân và sở hữu bị hại và do đó có 6 tính nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm cướp tài sản xâm phạm trực tiếp tới quyền bất khả xâm phạm về nhân thân và sở hữu của người bị hại và có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Là hành vi có lỗi của người phạm tội Lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý bên trong của những người có hành vi phạm tội đối với hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra nên tội cướp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, bởi chủ thể đã lựa chọn, quyết định thực hiện hành vi khi có điều kiện lựa chọn và quyết định các cư xử khác không nguy hại cho xã hội.
Là hành vi trái pháp luật hình sự Một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong pháp luật hình sự thì không được coi là tội phạm, chỉ những hành vi tác động đến các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ, thỏa mãn các dấu hiệu trong pháp luật hình sự thì mới bị coi là tội phạm. Đây là đặc điểm được quy định bởi dấu hiệu nội dung của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội và có lỗi. Là hành vi phải chịu hình phạt Khung hình phạt cao nhất được áp dụng đối với tội phạm cướp tài sản là chung thân, điều này cho thấy hậu quả mà người thực hiện hành vi đó phải gánh chịu tương thích với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, có lỗi khi làm trái với quy định của pháp luật hình sự. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản - Khách thể của tội cướp tài sản: Khách thể của tội cướp tài sản là quyền sở hữu tài sản và quyền bất khả xâm phạm về nhân thân của con người.
Đối tượng tác động của tội cướp tài sản là tài sản bao gồm tài sản được quy định trong pháp luật dân sự và con người; riêng đối với tài sản đặc biệt 7 như vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất độc, chất cháy, chất ma túy…thì được xem là đối tượng tác động của các tội phạm cụ thể khác mà không là đối tượng tác động của tội phạm cướp tài sản nói riêng hay tội phạm về sở hữu nói chung. - Mặt khách quan của tội phạm. Hành vi khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện một trong các hành vi: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là: + Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất có vũ khí hoặc công cụ, phương tiện khác chủ động tấn công người quản lý tài sản hoặc người khác có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công, làm cho họ lâm vào tình trạng mất khả năng chống cự lại. + Đe dọa dùng ngay tức khắc là đe dọa dùng ngay sức mạnh vật chất có vũ khí hoặc công cụ, phương tiện khác chủ động tấn công nếu người bị tấn công không chịu chống trả; lúc này, người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không để cho họ lấy tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại.
Thông thường, hành vi đe dọa ngay tức khắc thường thể hiện bằng sử dụng vũ lực và thái độ, cử chỉ, lời nói nhằm tạo cho người quản lý tài sản sợ và tin rằng sẽ có bạo lực ngay tức khắc nếu không giao tài sản. + Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được hiểu là người bị tấn công biết sự việc đang xảy ra nhưng không thể chống cự, không thể nhận thực được sự việc đang xảy ra như bị dùng thuốc mê hoặc bị bị nhét đồ vật vào mồm không thể kêu la được… Người bị tấn công là người đang quản lý, trông coi tài sản, tuy nhiên vẫn có trường hợp người bị tấn công là người không có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng có thể làm cản trở việc chiếm đoạt của người phạm tội, nhưng 8 người phạm tội thường hướng đến tấn công là người đang trực tiếp quản lý tài sản. Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không. Tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, điều này được thể hiện người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi cướp tài sản và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.
Mục đích chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc cấu thành tội cướp tài sản; còn khi không nhằm mục đích chiếm đoạt mà người thực hiện có dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được vẫn không cấu thành tội phạm cướp tài sản. - Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội cướp tài sản là người đủ từ 14 tuổi trở lên đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hình phạt của tội cướp tài sản Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS quy định bốn khung hình phạt chính và 01 hình phạt bổ sung là phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Khoản 1 có mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm, là khung hình phạt định tội (nhằm để phân biệt tội phạm) được áp dụng cho những trường hợp không có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
9 Từ khoản 2 đến khoản 4 được áp dụng khi có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể: - Khoản 2 được áp dụng và người phạm tội bị áp dụng mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù khi có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 200.000 đồng; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tái phạm nguy hiểm. - Khoản 3 được áp dụng và người phạm tội bị áp dụng mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù khi có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như: chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. - Khoản 4 được áp dụng và người phạm tội bị áp dụng mức hình phạt từ 18 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân khi có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của một người từ 61% trở lên hoặc của hai người trở lên mà mỗi người từ 31% trở lên; làm chết người (1); chiếm đoạt tài sản có trị giá từ năm trăm triệu đồng trở lên; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. (1) Xem: Nghị quyết số 04/HĐTP/1986 hướng dẫn việc định tội danh đối với một số trường hợp vừa có hành vi chiếm đoạt tài sản vừa có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được xử lý như sau: Đối với hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản có gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khỏe (tức là cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả) thì xử lý về tội cướp tài sản.
Đối với hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản mà giết chủ sở hữu hay người quản lý tài sản, giết người chống cự lại, hoặc bắn trả người đuổi bắt thì xử lý về tội giết người và tội cướp tài sản. 10 - Áp dụng khoản 5 khi chuẩn bị phạm tội và mức hình phạt tù phải gánh chịu là từ 01 năm đến 05 năm. Phân biệt tội cướp tài sản với một số tội phạm khác trong Luật hình sự Việt Nam 1.