Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau. Những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự rất đa dạng và áp dụng vào từng trường hợp cụ thể, được chia làm những nhóm BPNC chính như sau: Nhóm 1: Nhóm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, phòng trường hợp người có hành vi phạm tội có những hành vi lẩn trốn, có những hành vi gây khó khăn cho CQTHTT trong quá trình xác định sự thật và giải quyết vụ án. Trong nhóm BPNC này có những biện pháp như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giam, tạm giữ, bảo lĩnh…. Các biện pháp này đã góp phần hiệu quả trong phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho CQTHTT trong giải quyết vụ án.
Nhóm 2: Nhóm BPNC với mục đích chính nhằm thu thập những chứng cứ trong vụ án cụ thể bao gồm những biện pháp sau: khám xét, khám nghiệm hiện trường…. Nhóm 3: Nhóm BPNC bảo đảm cho việc giải quyết vụ án một cách thuận lợi cụ thể là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nhóm biện pháp trên bao gồm những biện pháp chính như sau: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải…. Những biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, phòng ngừa tội phạm có thể xảy ra hoặc các hành vi khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án hoặc để đảm bảo thi hành án một cách có hiệu quả.
8 Trong ba nhóm biện pháp cưỡng chế TTHS nói trên, thì các BPNC thuộc nhóm đầu tiên có vị trí vai trò hàng đầu. Bởi vì nhóm BPNC có mục đích chính ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, hạn chế tình trạng người phạm tội gây khó khăn cho CQTHTT bằng các hành vi như bỏ trốn, đe dọa, uy hiếp người bị hại, người làm chứng, phá hủy chứng cứ, làm sai lệch những tình tiết trong vụ án và quan trọng là ngăn ngừa tội người phạm tội có hành vi phạm mới và bảo đảm cho hoạt động giải quyết vụ án như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhằm góp phần quan trọng trong việ hạn chế tội phạm và các vi phạm pháp luật. Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của biện pháp tạm giam 1. Khái niệm biện pháp tạm giam.
Tội phạm là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự nước ta bảo vệ. Tội phạm gián tiếp xâm hại tới sự ổn định của chế độ ta như các hành vi xâm phạm tới chế độ quản lý của Nhà nước, xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm và tài sản của cá nhân, Nhà nước. Nhà nước ta coi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của tổ chức, cá nhân và tiến tới mục đích cuối cùng là loại trừ hiện tượng tiêu cực ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Việc quy định và bảo đảm thực hiện các BPNC trong BLTTHS đã thể hiện quan điểm đó của Nhà nước ta.
Biện pháp ngăn chặn trong bộ luật TTHS là một trong những chế định quan trọng được ghi nhận tại Bộ luật TTHS. BLTTHS hiện hành quy định những biện pháp ngăn chặn trong Chương VI gồm các biện pháp: 9 Cấm đi khỏi nơi cư trú, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm… Hiểu rõ bản chất của pháp luật về BPNC nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ quan có thẩm quyền, người THTT và cũng cần thiết đối với mọi người dân. Vì đây là BPNC mà khi được áp dụng sẽ tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người như các quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể … Do vậy, việc hiểu rõ bản chất, căn cứ, thẩm quyền áp dụng, thời hạn tạm giam, thủ tục tạm giam… một mặt nhằm nâng cao hiệu quả của công tắc đấu tranh phòng chống tội phạm mặt khác còn ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Hiện nay trong lý luận luận hình sự còn nhiều cách hiểu khác nhau và diễn đạt về khái niệm biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, từ “tạm” là chỉ trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi, mang tính tạm thời; “giam” tức là “giữ người bị coi là có tội ở một nơi nhất định không cho tự do đi lại, tự do hoạt động”. Như vậy có thể hiểu khái quát rằng: Tạm giam là biện pháp giữ người bị cho là có hành vi phạm tội ở một địa điểm, không cho tự do hoạt động, đi lại trong một thời gian nhất định, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi. Trong giáo trình Luật TTHS năm của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018 viết: Tạm giam là BPNC trong TTHS do Cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật. 10 Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân năm 1999 đã định nghĩa biện pháp tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo đối với xã hội trong thời gian nhằm không cho bị can, bị cáo có hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử thi hành án được thuận lợi.
Theo Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý (2006) của Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội thì: Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân nhằm cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong một thời gian nhất định với mục đích ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho hoạt động tố tụng hoặc tiếp tục phạm tội mới đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành một cách thuận lợi1. Trong cuốn Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong BLTTHS, tác giả Nguyễn Mai Bộ cho rằng: Tạm giam là BPNC trong TTHS mà theo đó các cơ quan THTT trong trường hợp nhất định có thể tước quyền tự do đối với bị can, bị cáo nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử một cách thuận lợi hoặc ngăn chặn tội phạm”2 Theo quan điểm tác giả, để đảm bảo tính khoa học, tính logic của khái niệm, cần xây dựng khái niệm BPTG cần dựa trên các đặc điểm BPNC đó là: Thứ nhất, BPTG là một những BPNC được quy định rõ trong pháp luật tố tụng hình sự. Trong đó, căn cứ áp dụng, quy định về thủ tục, thẩm 1 Xem: Viện khoa học pháp lý (2006) Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, tr.
2 Xem: Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chặn, khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật TTHS, Nxb Tư pháp, tr. 92 11 quyền, thời hạn như thủ tục thay thế, hủy bỏ BPTG… đã được quy định trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự cụ thể. Thứ hai là, đối tượng bị áp dụng BPTG là người mà cơ quan có thẩm quyền cho rằng người đó đã thực hiện hành vi vi phạm mà BLHS đã quy định là tội phạm. Đối tượng áp dụng này là cơ sở phân biệt BPTG với những BPNC khác.
Đặc điểm này phù hợp với quy định Hiến pháp và các quy định của quốc tế về bảo đảm quyền công dân, quyền con người. Không phải tất cả người bị buộc tội đều bị áp dụng BPNC này mà pháp luật TTHS chỉ quy định cụ thể trong đối tượng nào, những trường hợp nào thì đối tượng đó bị áp dụng BPTG. Theo quy định pháp luật TTHS hiện hành thì chỉ bị can, bị cáo, người bị yêu cầu dẫn độ, dẫn độ trong trong những trượng hợp cụ thể, chặt chẽ mà pháp luật TTHS quy định mới bị áp dụng. Thứ ba là, hậu quả pháp lý của việc áp dụng BPNC này là đối bị áp dụng BPNC này sẽ bị tách ra khỏi đời sống xã hội trong khoảng thời gian cụ thể tùy thuộc vào hành vi tính chất của tội phạm hoặc những trường hợp đã được pháp luật TTHS quy định.
Cụ thể, khi cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng đối tượng bị áp dụng được chuyển cho các cơ sở giam giữ để chịu sự giam giữ cách ly trong khoảng thời gian nhất định theo các quyết định, lệnh của cơ quan có thẩm quyền. Với việc bị giam giữ quản thúc tại cơ sở giam giữ, trại tạm giam, đối tượng đó không thể có cách hành động gây cản trở, khó khăn cho việc giải quyết VAHS như chạy trốn, xóa các chứng cứ, tài liệu hoặc tiếp tục phạm tội mới … Từ những cơ sở lý luật theo tác giả mạnh dạn xin đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giam là: “Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS do CQTHTT có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp cụ 12 thể theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị can, bị cáo trong một khoảng thời gian nhất nhất định với mục đích là chặn tội phạm, ngăn cho họ tiếp tục có cơ hội phạm tội hoặc có hành vi lẩn tránh pháp luật, gây khó khăn cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành một cách thuận lợi”. Đặc điểm của biện pháp tạm giam. Trên cơ sở quy định của pháp luật về BPNC tạm giam có thể thấy rằng BPNC này có những đặc điểm sau: Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hinh sự do cơ quan có thẩm quyền áp dụng với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.