Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng định khung trong tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác. Chương 2: Quy định về tình tiết tăng nặng định khung trong tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác và thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung trong tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG TRONG TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC 1.
Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác 1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tính mạng, sức khỏe của con ngƣời là khách thể quan trọng, đƣợc nhà nƣớc quan tâm và đề ra các chính sách pháp luật bảo vệ. Vì vậy, tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác có vị trí rất quan trọng, đƣợc quy định tại phần thứ hai của BLHS năm 2015 – Phần các tội phạm và chỉ nằm sau Chƣơng quy định nhóm tội phạm về an ninh quốc gia. Qua các thời kỳ của Bộ luật hình sự, đến nay chƣa có định nghĩa chính thức cho tội này.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, định nghĩa sức khỏe đƣợc công bố trong Hiến chƣơng Đại hội Đồng Y tế lần thứ 22 vào năm 1946 và đƣợc sửa đổi trong Hiến chƣơng Đại hội Đồng Y tế lần thứ 29 vào năm 1978. Hiện nay, định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới đƣợc nhiều ngƣời thống nhất sử dụng [19]. Ngoài ra từ điển Bách khoa Việt Nam cũng có định nghĩa về sức khỏe [9]. Dƣới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm sức khỏe có mối quan hệ mật thiết với quyền con ngƣời, dựa trên các nghiên cứu y tế, quy định pháp luật.
Nhìn nhận dƣới góc độ khoa học hình sự, có quan điểm cho rằng: Sức khỏe của con ngƣời là tình trạng sức lực của con ngƣời đang sống trong điều kiện bình thƣờng, cho nên sức khỏe thực ra là trạng thái tâm lý, sự hoạt động hài hòa trong cơ thể tạo nên khả năng chống lại bệnh tật [12, tr. 8 Tác giả Phạm Văn Beo đã đƣa ra khái niệm: Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe ngƣời khác dƣới dạng thƣơng tích hoặc tổn thƣơng khác [1]. Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế thì: Cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác là hành vi của một ngƣời cố ý làm cho ngƣời khác bị thƣơng hoặc tổn hại đến sức khỏe [17, tr. Tuy nhiên, hai định nghĩa trên đều thiếu các yếu tố quan trọng nhƣ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể và tính trái pháp luật của hành vi.
Để xác định trách nhiệm hình sự cần phải xác định đầy đủ hai yếu tố sau: Thứ nhất, ngƣời thực hiện hành vi phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự (nghĩa là không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS) thực hiện, đồng thời bắt buộc ngƣời đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 của BLHS năm 2015. Thứ hai, ngƣời đó phải có lỗi (cố ý, vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi này bắt buộc phải đƣợc quy định trong phẩn thứ hai – các tội phạm trong bộ luật hình sự, nếu hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhƣng hành vi này không quy định trong BLHS cũng không đƣợc coi là tội phạm (Điều 8 BLHS năm 2015). Vì vậy, để thể hiện rõ ràng, đầy đủ các yếu tố về nội hàm của tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác theo quan điểm của học viên cần đƣợc xác định thống nhất “Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác là hành vi cố ý gây ra thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây nguy hiểm cho sức khỏe của ngƣời khác một cách đáng kể đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS thực hiện và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS”. Đặc điểm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1.
Khách thể của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Khách thể của tội phạm đóng vai trò quan trọng trong cấu thành tội phạm hình sự, bởi lẽ dấu hiệu của khách thể xác định quan hệ xã hội đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ và vai trò của các dấu hiệu đó trong việc xác định TNHS đối với cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội trong thực tế. Khách thể của tội phạm thể hiện rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm trong đời sống xã hội, là một trong những yếu tố để cơ quan tố tụng xác định hành vi xâm hại thực tế có cấu thành tội phạm hay không. Sức khỏe con ngƣời là đối tƣợng quan trọng đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, ngƣời nào xâm hại đến sức khỏe của ngƣời khác chính là xâm hại đến khách thể mà luật hình sự bảo vệ, đối tƣợng tác động của tội phạm này là một con ngƣời cụ thể, đó là ngƣời đang sống và tồn tại, có quyền đƣợc pháp luật tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe khỏi sự xâm hại của tội phạm.
Mặt khác, hành vi xâm phạm quyền đƣợc bảo vệ sức khỏe đối với một số đối tƣợng đặc biệt thì mức hình phạt sẽ nặng hơn, đó là: trẻ em, phụ nữ trong thời gian mang thai (ngƣời có hành vi xâm phạm biết mà vẫn xâm phạm sức khỏe của họ), hoặc những đối tƣợng mà khả năng chống trả, tự vệ của họ kém hơn so với ngƣời bình thƣờng, thậm chí không có khả năng tự vệ nhƣ: ngƣời già yếu, ốm đau, hoặc đối tƣợng mà với truyền thống, đạo đức của ngƣời Việt Nam cần phải kính trọng, biết ơn nhƣ ngƣời thân của ngƣời có hành vi xâm hại (ông bà, cha mẹ), đối tƣợng là ngƣời đã rèn luyện, giáo dục ngƣời có hành vi xâm hại (thầy giáo, cô giáo), hoặc ngƣời có ơn nuôi dƣỡng, ngƣời đã chữa bệnh cho ngƣời có hành vi xâm hại. Mặt khách quan của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đối với tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác khi xem xét, đánh giá hành vi khách quan có thể thấy hành vi này đƣợc thể hiện dƣới hai dạng. Dạng thứ nhất, hành vi “gây thƣơng tích”, dạng hành vi này thƣờng gặp trong đời sống hàng ngày. Dạng thứ hai, hành vi “gây tổn hại cho sức khỏe” – dạng hành vi này thƣờng ít gặp trên thực tế.
Những hành vi này xảy ra thì chúng ta có thể nhận biết đƣợc, bởi lẽ nó đƣợc diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Hành vi khách quan của tội phạm này có thể đƣợc thực hiện trực tiếp bằng việc sử dụng công cụ, phƣơng tiện nhƣ dao, mã tấu, gạch, đá, gậy, ghế, tuýp sắt, cung tên,. để thực hiện các hành vi chém, ném, đập, đá, phóng,.nạn nhân, ngƣời thực hiện hành vi phạm tội có thể không sử dụng bất cứ công cụ hoặc phƣơng tiện nào để thực hiện các hành vi vặn, bẻ (tay, chân), đấm, nhổ, giật (tóc, tay), cắn, đá,. thậm chí ngƣời phạm tội có thể thả súc vật, thú dữ theo sự điều khiển, chỉ huy của mình hoặc sử dụng bộ phận, thân thể của ngƣời khác để gây tổn thƣơng cơ thể nạn nhân,.
những hành vi này đƣợc thực hiện thông qua hành động nhƣ ném, đấm, đá, đâm, chém, đạp, xô ngã, đốt cháy, đầu độc,. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này đƣợc thể hiện ra ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thấy và đánh giá đƣợc. Hậu quả của hành vi là ngƣời bị hại phải bị thƣơng tích hoặc bị tổn thƣơng đến sức khỏe, hậu quả này dựa trên kết luận của cơ quan giám định và tỷ lệ tổn thƣơng phải ở mức đáng kể. Nếu ngƣời bị gây thƣơng tích chỉ thiệt hại nhỏ, nghĩa là tỷ lệ tổn thƣơng của họ chƣa đến mức đáng kể, dƣới mức tỷ lệ mà BLHS quy định thì hành vi đó không thể bị coi là tội phạm, khi đó quan hệ giữa ngƣời gây thƣơng tích và ngƣời bị thƣơng tích và nhà nƣớc sẽ đƣợc áp dụng pháp luật dân sự (bồi thƣờng thiệt hại về sức khỏe), hành chính để giải quyết (quyết 11 định xử phạt vi phạm hành chính), thậm chí trƣờng hợp tỷ lệ thƣơng tích là 0% thì ngƣời gây ra thƣơng tích không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Thiệt hại về thể chất là thiệt hại liên quan đến cơ thể con ngƣời, biểu hiện qua việc hành vi phạm tội gây ra sự thay đổi tình trạng tồn tại bình thƣờng, vốn có của cơ thể con ngƣời (nạn nhân). Dạng thiệt hại này gồm thiệt hại về tính mạng (chết ngƣời) hoặc thiệt hại về sức khỏe (gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của con ngƣời) [42, tr. Để xác định mức độ thiệt hại của nạn nhân từ đó đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì cơ quan tiến hành tố tụng dựa trên kết luận giám định của Hội đồng giám định pháp y, nội dung kết luận sẽ đƣa ra tỷ lệ tổn thƣơng, cơ chế hình thành vết thƣơng, vật tác động,. Mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác và hậu quả là mức độ thƣơng tích là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm, trong đó hành vi có trƣớc và gây ra hậu quả, hậu quả sinh ra bởi hành vi.
Nhƣ vậy, trong cấu thành tội phạm vật chất, mối quan hệ về nhân, quả là dấu hiệu cấu thành bắt buộc. Tuy nhiên, đối với tội phạm có cấu thành hình thức thì hậu quả không phải là một dấu hiệu của cấu thành tội phạm nên không cần xác định mối hệ nhân – quả, điển hình nhƣ tại khoản 6 Điều 134 BLHS 2015 quy định chỉ cần chuẩn bị vũ khí, hung khí,.