Luận văn thạc sĩ đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà giang

Luận văn thạc sĩ phân tích đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam, dựa trên thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ Đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam, với trọng tâm là thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hà Giang. Tác giả Nguyễn Thị Quý đã phân tích sâu về khái niệm, dấu hiệu pháp lý, và trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản. Luận văn cũng đánh giá thực tiễn xét xử tại Hà Giang, chỉ ra những tồn tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.

1.1. Khái niệm đồng phạm và tội trộm cắp tài sản

Đồng phạm được định nghĩa là sự tham gia của hai hoặc nhiều người trong việc thực hiện một tội phạm. Trong tội trộm cắp tài sản, đồng phạm thể hiện qua sự liên kết chặt chẽ giữa các đối tượng, làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Luận văn phân tích các hình thức đồng phạm, bao gồm đồng phạm có thông mưu trước và không có thông mưu trước, cũng như đồng phạm giản đơn và phức tạp.

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm

Luận văn chỉ ra các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm, bao gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể, và mặt chủ quan. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của việc xác định trách nhiệm hình sự đối với từng người đồng phạm, đảm bảo tính công bằng trong xét xử.

II. Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản có đồng phạm tại Hà Giang

Luận văn đã nghiên cứu thực tiễn xét xử các vụ án tội trộm cắp tài sản có đồng phạm tại tỉnh Hà Giang từ năm 2010 đến 2015. Kết quả cho thấy, mặc dù có nhiều tiến bộ trong công tác xét xử, vẫn tồn tại những hạn chế như việc phân định vai trò của từng người đồng phạm chưa chính xác, dẫn đến việc áp dụng hình phạt chưa phù hợp.

2.1. Tình hình kinh tế chính trị ảnh hưởng đến tội phạm

Tác giả phân tích tình hình kinh tế - chính trị tại Hà Giang, cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến diễn biến tội trộm cắp tài sản có đồng phạm. Những khó khăn kinh tế và sự thiếu hụt việc làm là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng của loại tội phạm này.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân trong xét xử

Luận văn chỉ ra những tồn tại trong việc xét xử, bao gồm sự thiếu thống nhất trong nhận thức về đồng phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Nguyên nhân được xác định là do quy định pháp luật chưa hoàn thiện và sự hạn chế trong việc áp dụng pháp luật.

III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp

Luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản. Tác giả đề xuất việc bổ sung các quy định cụ thể về phân định vai trò của từng người đồng phạm, đồng thời nâng cao nhận thức và kỹ năng của các cơ quan tiến hành tố tụng.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự để làm rõ khái niệm và các hình thức đồng phạm. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn xét xử.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Luận văn đề xuất các giải pháp như tăng cường đào tạo cho cán bộ tư pháp, nâng cao nhận thức về đồng phạm, và cải thiện công tác điều tra, truy tố, xét xử để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án tội trộm cắp tài sản có đồng phạm.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm đồng phạm “Đồng” theo Từ điển tiếng Việt nghĩa là cùng như nhau, không thể khác được. “Phạm” là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh.

Đồng phạm nghĩa là cùng phạm tội hiểu theo nghĩa của luật hình sự” [3, tr. Nghiên cứu pháp luật hình sự các nước, chúng ta thấy quan niệm không giống nhau về khái niệm đồng phạm. Điểm qua quy định của một số nước trên thế giới quy định về khái niệm đồng phạm thấy rằng: Bộ luật hình sự (BLHS) Thụy Điển quy định về người đồng phạm là người phối hợp với người khác cùng thực hiện một hành vi phạm tội hoặc một người tìm cách xúi giục người khác phạm tội hoặc đề nghị người khác phạm tội. “Khi xét xử từng người đồng phạm phải căn cứ vào việc người đó tham gia thực hiện tội phạm do cố ý hay vô ý” (Điều 4 – Chương 23).

Như vậy, luật hình sự một số nước quan niệm đồng phạm có cả trong những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý. BLHS Pháp cũng quy định về chính phạm và đồng phạm (tòng phạm). Theo đó, chính phạm là người thực hiện các hành vi bị coi là tội phạm hoặc chuẩn bị thực hiện một trọng tội hoặc khinh tội trong trường hợp luật quy định (Điều 121. Người có ý thức giúp đỡ hoặc trợ lực và đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị hoặc thực hiện tội phạm bị coi là đồng phạm của một trọng tội hoặc khinh tội.

Người dùng tặng vật, hứa hẹn, đe dọa, dùng mệnh lệnh, lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để xúi giục hoặc có các chỉ dẫn để cho người khác thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm (Điều 121. BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979 tại Điều 22 quy định: “Hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. Theo Điều 33 BLHS của Liên Bang Nga cũng có quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý 8 thực hiện một tội cố ý là đồng phạm”. Như vậy pháp luật hình sự của các nước trên thế giới có những quy định rất đa dạng về đồng phạm.

Tại Việt Nam, trước khi ban hành BLHS năm 1985 thì chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào quy định thống nhất về khái niệm đồng phạm đối với tội phạm nói chung. Để có cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xử lý về hình sự đối với những trường hợp nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm, BLHS đã có điều luật riêng quy định về đồng phạm. Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định đồng phạm là trường hợp “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm đồng phạm như sau:“Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự tham gia của 2 người trở lên” [5, tr.

Khái niệm tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản là một loại tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất phổ biến trong xã hội. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai khuynh hướng khi quy định về tội trộm cắp tài sản trong văn bản pháp luật hình sự. Khuynh hướng thứ nhất không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản mà mặc nhiên thừa nhận nó. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là điển hình cho khuynh hướng này, Điều 264 Bộ luật hình sự nước này quy định: “Người nào trộm cắp tài sản, tiền bạc công hoặc tư, thì bị phạt đến ba năm tù”.

Khuynh hướng thứ hai có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản. Các nước như Liên bang Nga, Cộng hòa liên băng Đức, Nhật Bản, Malaixia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào… đều thuộc khuynh hướng này. Điều 158 Liên bang Nga năm 1986 quy định: “Trộm cắp là (hành vi) bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác” [2, tr. Dựa trên cơ sở khái niệm này có thể xác định dấu hiệu cơ bản của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản; sự chiếm đoạt tài sản được thể hiện một cách bí mật; tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản của người khác.

Điều 142 BLHS của Cộng hòa liên băng Đức được ban hành năm 1871 và được sửa đổi bổ sung nhiều lần phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội đưa ra khái niệm của tội trộm cắp tài sản: “Người nào lấy đi vật là động sản của người khác, với 9 mục đích chiếm đoạt vật này, thì bị phạt tù đến năm năm hoặc phạt tiền”. Khái niệm này cho thấy đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là động sản, bất động sản không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Điều 253 BLHS Nhật Bản ban hành năm 1907 đã sửa đổi bổ sung nhiều lần cũng quy định: “Người nào lấy cắp tài sản của người khác thì bị phạt tù đến 10 năm”. Như vậy, bộ luật chỉ xác định đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản của người khác, không mô tả thêm bất kỳ dấu hiệu pháp lý nào khác của tội phạm.

Từ những dẫn chứng trên ta thấy rõ một số nét tương đồng cơ bản trong pháp luật hình sự ở một số nước. Sự khác biệt xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm của từng nước. Tại Việt Nam, trong các bộ luật phong kiến trước đây đều đã từng thể hiện rõ cả hai khuynh hướng này. Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long tuy có quy định nhiều về tội trộm cắp cụ thể nhưng không có quy phạm định nghĩa về tội này.

Ngược lại, Hình Luật Canh Cải và Hoàng Việt Luật Lệ lại có quy định về khái niệm tội trộm cắp tài sản. Ví dụ Điều 381 Hình Luật Canh Cải quy định: “Người nào dùng sự gian mà lấy đồ (vật) của người ta, thì phạm tội ăn trộm” [13, tr. Các văn bản pháp luật hình sự của nhà nước ta sau Cách mạng Tháng 8 lại thể hiện khuynh hướng thứ nhất, không có quy phạm định nghĩa về tội trộm cắp tài sản, chỉ quy định tội danh một cách đơn giản. Cách quy định này thể hiện rõ trong các Điều 132, 155 Bộ luật hình sự năm 1985 và Điều 138 BLHS năm 1999.

Giáo trình trường Đại học luật Hà Nội đưa ra định nghĩa về tội trộm cắp tài sản: “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có chủ” [69, tr. 383]; Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, Tập 2 – Đinh Văn Quế “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [25, tr. Khái niệm trên không thể hiện rõ một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi, dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm. Để đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản, trước hết cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm mà theo TSKH.PGS Lê Cảm là phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm của nó là: 10 a) bình diện khách quan – tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý – tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan- tôi phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [4, tr.

Tổng kết các quan điểm trên ta có thể đưa ra một khái niệm về tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản Tội phạm nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản nói riêng không chỉ thực hiện bởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người mà giữa họ đã có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc biệt này trong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm. “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm cắp tài sản là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, chúng ta thấy vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm.

Trong thời kỳ phong kiến, Bộ luật Gia Long đã có quy định về trường hợp đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản tại Điều 238: “10 người cùng ăn trộm của cải một nhà, tính tang của (giá trị tang vật) đến 40 lạng bạc dẫu chia nhau, mỗi người được 4 lạng, nhưng mà tính gộp một chỗ thì 10 người đều phải ăn trộm 40 lạng” nghĩa là đối với giá trị tài sản bị chiếm đoạt được tính gộp lại và những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm chung về tội phạm. Ở thời Pháp thuộc, Hình Luật Canh Cải bên cạnh việc đưa ra quy định về khái niệm tội trộm cắp tài sản tại Điều 379 còn quy định về trường hợp “Trộm cắp tài sản có từ hai người trở lên tham gia” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của Tội trộm cắp tài sản. Sau này trong Hình luật An Nam và Hoàng Việt Luật Lệ cũng sao chép lại quy định này từ Hình Luật Canh Cải. 11 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, pháp luật hình sự nước ta đã có sự phân biệt giữa các hình thức đồng phạm khác như: “Trộm cắp phạt tù từ ba tháng đến ba năm; cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực, có dùng vũ khí để dọa nạt thì phạt tù từ ba đến mười năm” (Thông tư 442 – TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 19/01/1955 về trừng trị một số tội phạm) để phân biệt với các hình thức đồng phạm đơn giản, “phạm tội có tổ chức” trở thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tinh thần này vẫn được Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 giữ vững.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ: Đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn tại Hà Giang là một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, dựa trên thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Hà Giang. Tài liệu này phân tích các yếu tố pháp lý liên quan đến đồng phạm, cách thức xác định trách nhiệm hình sự đối với các bên tham gia, cũng như những thách thức trong quá trình điều tra và xét xử. Độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện về cách luật hình sự Việt Nam xử lý các vụ án liên quan đến đồng phạm, đồng thời hiểu rõ hơn về thực tiễn áp dụng tại địa phương cụ thể.

Để mở rộng kiến thức về các tội phạm liên quan đến tài sản, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ tội cướp tài sản theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh bắc ninh, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về tội cướp tài sản và cách pháp luật xử lý. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ kiểm sát điều tra tội cướp giật tài sản theo pháp luật việt nam từ thực tiễn quận hoàng mai thành phố hà nội cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về các vụ án liên quan đến tài sản. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh bắc ninh sẽ giúp bạn nắm bắt các khía cạnh pháp lý liên quan đến tái phạm, một yếu tố quan trọng trong các vụ án hình sự.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn chuyên sâu và mở rộng hiểu biết về các vấn đề pháp lý liên quan.