Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ luật học: "Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam", chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm (mã số: 62 38 70 01), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hưởng dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Hòa tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2008).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ở cấp độ quốc tế, ngày 09 tháng 12 năm 1998, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 53/111 quyết định thành lập ủy ban chuyên biệt liên chính phủ để soạn thảo Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cùng Nghị định thư bổ sung về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Văn kiện này xác định việc phòng, chống tội buôn bán người nói chung và mua bán phụ nữ nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu.
Tại Việt Nam, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm giai đoạn 1998–2007 ghi nhận tình hình tội mua bán phụ nữ diễn biến phức tạp. Thống kê của Cục Thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Phòng Tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao cho thấy trong 10 năm (1998–2007), cả nước có 1.904 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội danh này. Số liệu tổng điều tra rà soát của lực lượng Công an từ năm 1998 đến năm 2006 xác định 5.746 phụ nữ, trẻ em bị bán ra nước ngoài và 7.940 phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày nghi bị bán (trong đó phụ nữ chiếm khoảng 95%). Tội phạm có chiều hướng gia tăng và lan rộng: năm 2005 có 65 vụ với 112 bị cáo bị xét xử tại 23/64 tỉnh, thành phố; năm 2006 tăng lên 121 vụ với 237 bị cáo tại 31/64 tỉnh, thành phố; năm 2007 có 139 vụ với 264 bị cáo.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu chưa được khảo sát toàn diện và hệ thống dưới góc độ tội phạm học trong một khoảng thời gian đủ dài (10 năm). Các công trình trước đó chủ yếu khảo sát thời gian ngắn, số liệu hạn hẹp, hoặc gộp chung đối tượng phụ nữ và trẻ em, dẫn đến việc phân tích tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và giải pháp phòng ngừa còn mang tính khái quát.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là phân tích tình hình tội phạm của tội mua bán phụ nữ; phân tích các nguyên nhân, điều kiện của tội mua bán phụ nữ; từ đó đưa ra hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm này trong thực tiễn.
Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể như sau:
- Phân tích tình hình tội phạm của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam, cụ thể là làm rõ mức độ, tính chất, động thái của tội mua bán phụ nữ trong 10 năm (1998–2007);
- Phân tích các yếu tố là nguyên nhân, điều kiện của tội mua bán phụ nữ và cơ chế tác động của các yếu tố nguyên nhân, điều kiện trong việc làm phát sinh tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 1998–2007;
- Đưa ra những dự báo về mức độ, tính chất, xu hướng vận động của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam trong những năm tiếp theo;
- Đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội mua bán phụ nữ có hiệu quả tại Việt Nam hiện tại và tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tội mua bán phụ nữ dưới góc độ tội phạm học.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc và tập trung khảo sát chuyên sâu tại các địa bàn trọng điểm như Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, An Giang, Điện Biên, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Thu thập, khảo sát và phân tích số liệu thực chứng trong thời gian 10 năm, từ năm 1998 đến năm 2007.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến tội mua bán phụ nữ theo các nhóm chính:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Đề tài "Tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa" do Thượng tá Đặng Xuân Khang (Phó Chánh Văn phòng INTERPOL Việt Nam) làm chủ nhiệm, hoàn thành năm 2005, được Viện Chiến lược và Khoa học Công an xuất bản thành sách năm 2007. Đề tài này phân tích tình hình buôn bán người trên thế giới và thực trạng mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam giai đoạn 1998–2003 dựa trên số liệu bắt giữ, khởi tố, điều tra của ngành Công an.
- Luận văn thạc sĩ luật học:
- Luận văn "Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" của tác giả Trần Văn Thạch (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002).
- Luận văn "Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quyết Thắng (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006).
- Báo cáo tham luận hội thảo và bài báo khoa học:
- Báo cáo "Buôn bán phụ nữ và mại dâm trẻ em ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp" của TS. Lê Thị Quý tại Hội thảo quốc gia "Đại biểu dân cử về chính sách xóa bỏ bạo lực với phụ nữ" (năm 2002).
- Bài viết "Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay" của TS. Trương Quang Vinh (Tạp chí Luật học, số 3, năm 2004).
- Bài viết "Cần từng bước hoàn thiện pháp luật về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em" của tác giả Lương Thanh Hải (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, tháng 4/2006).
- Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ chuyên ngành:
- Cuốn "Sổ tay hướng dẫn điều tra vụ án buôn bán người" do Tổng cục Cảnh sát phối hợp với Học viện Cảnh sát và Cục Trinh sát Bộ đội Biên phòng ban hành năm 2007.
- Cuốn "Sổ tay một số kỹ năng truy tố, xét xử các tội phạm buôn bán người" do Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao ban hành năm 2007.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây tồn tại một số giới hạn: nghiên cứu gộp cả hai loại tội danh mua bán phụ nữ và mua bán trẻ em; giới hạn phạm vi trong hoạt động mua bán qua biên giới; thời gian khảo sát ngắn (khoảng 5 năm); nguồn số liệu chủ yếu dừng ở giai đoạn khởi tố, điều tra của cơ quan Công an mà chưa bao quát giai đoạn truy tố, xét xử; hoặc chỉ tiếp cận dưới dạng các bài viết tham luận mang tính khái quát.
Luận án của tác giả Nguyễn Văn Hưởng lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: tách biệt và nghiên cứu độc lập tội mua bán phụ nữ; mở rộng thời gian khảo sát thực chứng lên 10 năm liên tục (1998–2007); sử dụng nguồn dữ liệu chính thức từ Cục Thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phòng Tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao kết hợp khảo sát chi tiết 140 bản án hình sự sơ thẩm tại 12 địa phương để phân tích toàn diện tình hình tội phạm, các nguyên nhân điều kiện đặc thù và xây dựng hệ thống giải pháp phòng ngừa chuyên sâu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Phương pháp luận chung: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Khung lý thuyết tội phạm học: Luận án sử dụng khái niệm: "Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định". Bản chất của tình hình tội phạm được nhận diện và phân tích thông qua 4 thuộc tính cơ bản cấu thành:
- Mức độ của tội phạm: Chỉ tiêu định lượng phản ánh tổng số vụ phạm tội và tổng số người phạm tội;
- Cơ cấu của tội phạm: Chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ, mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong (loại tội, quy mô, thủ đoạn, hình phạt, nhân thân, không gian);
- Tính chất của tội phạm: Chỉ tiêu định tính được rút ra từ sự đánh giá tương quan giữa mức độ và cơ cấu tội phạm;
- Động thái của tội phạm: Chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi, diễn biến và xu hướng vận động theo thời gian.
- Cơ sở pháp lý: Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 (và Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1985), các tội phạm thuộc Chương XII về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp thống kê tội phạm học: Thu thập, xử lý, lập bảng thống kê chuỗi số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc trong 10 năm (1998–2007).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tách và tổng hợp dữ liệu từ 140 bản án hình sự sơ thẩm để làm rõ các biến số về độ tuổi, nghề nghiệp, học vấn, thủ đoạn phạm tội và mức hình phạt.
- Phương pháp so sánh: So sánh tỷ lệ tội mua bán phụ nữ với tội phạm nói chung, so sánh với nhóm tội xâm phạm nhân thân; so sánh hệ số tội phạm giữa các vùng miền và địa phương.
- Phương pháp mô tả bằng biểu đồ, đồ thị: Trực quan hóa tỷ lệ phần trăm và động thái phát triển của tội phạm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Số liệu thống kê quốc gia 10 năm (1998–2007) từ Cục Thống kê tội phạm VKSNDTC và Phòng Tổng hợp TANDTC (1.086 vụ án và 1.904 bị cáo xét xử sơ thẩm; 1.143 bị can khởi tố; 1.942 bị can truy tố).
- Dữ liệu thực chứng từ 140 bản án hình sự sơ thẩm thu thập ngẫu nhiên tại 12 tỉnh, thành phố, bao gồm thông tin chi tiết của 237 bị cáo và 337 nạn nhân.
- Báo cáo tổng kết công tác phòng chống tội phạm của Ban Chỉ đạo 130/CP, Tiểu ban chỉ đạo 130 các tỉnh, thành phố (Hà Nội, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, An Giang, Tây Ninh, Thanh Hóa).
- Dữ liệu thống kê dân số từ Tổng cục Thống kê tính đến ngày 01/01/2006 (dân số cả nước 84,15 triệu người) làm căn cứ tính hệ số tội phạm trên 100.000 dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình tội phạm của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam
Chương 1 tập trung phân tích 4 nội dung: nhận thức chung về tình hình tội phạm, thực trạng, động thái và phần ẩn của tội mua bán phụ nữ tại Việt Nam giai đoạn 1998–2007.
1. Mức độ của tội mua bán phụ nữ
Trong 10 năm (1998–2007), Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm 1.086 vụ án với 1.904 bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ. Bình quân mỗi năm xét xử 109 vụ với 190 bị cáo. Trung bình cứ khoảng 3 ngày có 1 vụ và chưa đến 2 ngày có 1 bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm.
| Năm |
Số vụ xét xử sơ thẩm |
Số bị cáo xét xử sơ thẩm |
| 1998 |
173 |
297 |
| 1999 |
141 |
258 |
| 2000 |
137 |
227 |
| 2001 |
77 |
129 |
| 2002 |
89 |
136 |
| 2003 |
74 |
122 |
| 2004 |
79 |
122 |
| 2005 |
65 |
112 |
| 2006 |
121 |
237 |
| 2007 |
139 |
264 |
| Tổng cộng |
1.086 |
1.904 |
Tương quan mức độ của tội mua bán phụ nữ:
- So với tội phạm nói chung: Điều 119 BLHS chiếm 0,38% số điều luật trong BLHS (1/263 điều). Trong thực tế xét xử 10 năm, tội mua bán phụ nữ chiếm 0,23% tổng số vụ phạm tội và 0,26% tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm. Tỷ lệ bị cáo (0,26%) cao hơn tỷ lệ số vụ (0,23%) phản ánh số người tham gia trong mỗi vụ án mua bán phụ nữ đông hơn mức trung bình của tội phạm nói chung.
- So với nhóm tội xâm phạm nhân thân (Chương XII BLHS): Điều 119 chiếm 3,33% số điều luật của chương (1/30 điều). Thực tế xét xử chiếm 1,42% số vụ và 1,76% số bị cáo bị xét xử về các tội xâm phạm nhân thân.
- Hệ số tội phạm: Tính trên quy mô dân số cả nước năm 2006 (84,15 triệu người), hệ số tội phạm bình quân toàn quốc là 1,3 vụ và 2,26 bị cáo trên 100.000 dân.
Hệ số tội phạm có sự phân hóa rõ rệt giữa các địa phương:
| Địa phương |
Số vụ (1998–2007) |
Số bị cáo (1998–2007) |
Dân số (01/01/2006) |
Hệ số vụ / 100.000 dân |
Hệ số bị cáo / 100.000 dân |
Tỷ lệ so với TP nói chung |
Tỷ lệ so với TP nhân thân |
| Toàn quốc |
1.086 |
1.904 |
84.150.000 |
1,30 |
2,26 |
0,23% |
1,42% |
| Quảng Ninh |
134 |
217 |
1.300.000 |
12,28 |
19,90 |
0,95% |
8,80% |
| Điện Biên |
18 |
32 |
459.100 |
3,92 |
24,40 |
1,02% |
8,93% |
| Bắc Kạn |
11 |
20 |
301.500 |
3,66 |
6,67 |
0,36% |
2,55% |
| Bắc Ninh |
16 |
22 |
1.800.000 |
1,59 |
2,18 |
1,12% |
3,12% |
| An Giang |
34 |
48 |
2.400.000 |
1,54 |
2,17 |
— |
— |
| Nam Định |
17 |
31 |
1.300.000 |
0,86 |
1,57 |
0,28% |
2,63% |
| Bình Dương |
0 |
0 |
964.000 |
0,00 |
0,00 |
0,00% |
0,00% |
2. Cơ cấu của tội mua bán phụ nữ
- Quy mô vụ án và số lần phạm tội: Khảo sát 140 bản án sơ thẩm cho thấy có 61 vụ phạm tội có đồng phạm (chiếm 43,6%), trong đó có 18 vụ phạm tội có tổ chức (12,86%) và 25 vụ đồng phạm có yếu tố nước ngoài móc nối với đối tượng ở Trung Quốc, Campuchia (17,86%). Tổng số nạn nhân trong 140 bản án là 337 người (bình quân 2,4 nạn nhân/vụ); vụ có 1 nạn nhân chiếm 41,43% (58 vụ); có 2 nạn nhân chiếm 27,1% (38 vụ); có từ 3 nạn nhân trở lên chiếm 31,43% (44 vụ, có vụ lên tới 8, 9 hoặc 12 nạn nhân). Về số lần thực hiện: phạm tội 1 lần chiếm 61,4% (86 vụ); phạm tội từ 2 lần trở lên chiếm 38,6% (54 vụ, trong đó 2 lần: 21,4%; 3 lần: 10%; 5 lần: 2,86%; 7 lần: 1,42%).
- Thủ đoạn phạm tội: Trong 337 nạn nhân được nghiên cứu, có 335 người (chiếm 99,4%) bị xâm hại bằng thủ đoạn lừa dối (chỉ 2 người bị dùng vũ lực, cưỡng ép, chiếm 0,96%). Cơ cấu thủ đoạn lừa dối gồm:
- Lừa dối tìm việc làm, buôn bán, làm thuê: 216 người (chiếm 64,1%);
- Lừa dối gả chồng, kết hôn với người nước ngoài: 45 người (chiếm 13,35%);
- Các hình thức lừa dối khác (rủ đi chơi, mua hàng, giả vờ yêu đương): 74 người (chiếm 21,96%).
- Đặc điểm nạn nhân: Về độ tuổi (khảo sát 337 nạn nhân): từ 16 đến 20 tuổi chiếm 61,4% (207 người); từ 21 đến 25 tuổi chiếm 26,7% (90 người); từ 26 tuổi trở lên chiếm 11,9% (40 người).
- Địa bàn không gian: Tội phạm xảy ra tại 40/64 tỉnh thành (giai đoạn 2005–2007). Các địa bàn vừa là nơi phát sinh vừa là nơi trung chuyển nạn nhân gồm Hà Nội (71 vụ/153 bị cáo), Cao Bằng (63 vụ/79 bị cáo), Quảng Ninh (134 vụ/217 bị cáo).
- Khung hình phạt và loại tội phạm áp dụng: Trong mẫu 237 bị cáo từ 140 bản án, có 231 bị cáo (97,46%) bị áp dụng Khoản 2 Điều 119 BLHS 1999 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng), chỉ có 6 bị cáo (2,53%) bị xét xử theo Khoản 1 Điều 119 BLHS.
- Cơ cấu hình phạt áp dụng toàn quốc (1.904 bị cáo): Cảnh cáo: 1 bị cáo (0,05%); Cải tạo không giam giữ: 74 bị cáo (3,89%); Tù từ 3 năm trở xuống: 1.086 bị cáo (57,0%); Tù trên 3 đến 7 năm: 431 bị cáo (22,64%); Tù trên 7 đến 15 năm: 206 bị cáo (10,8%); Tù trên 15 đến 20 năm: 106 bị cáo (5,57%); Hình phạt bổ sung: 207 bị cáo (10,87%). Trong mẫu 237 bị cáo, có 44 bị cáo bị phạt quản chế (18,6%) và 10 bị cáo bị phạt tiền (4,22%).
3. Tính chất và nhân thân người phạm tội
- Tính chất nguy hiểm: Số bị cáo bình quân trong một vụ án mua bán phụ nữ là 1,74 người/vụ, cao hơn so với tội phạm nói chung (1,55 người/vụ) và nhóm tội xâm phạm nhân thân (1,40 người/vụ).
- Trình độ học vấn (mẫu 237 bị cáo): Không biết chữ: 54 bị cáo (22,8%); Tiểu học: 89 bị cáo (37,5%); Trung học cơ sở: 71 bị cáo (29,7%); Trung học phổ thông: 24 bị cáo (10%). Tại một số địa phương tỷ lệ không biết chữ rất cao (Hà Giang: 60%; An Giang: 28,8%).
- Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp chiếm 21,9% (52 bị cáo); Nghề tự do chiếm 34,2% (81 bị cáo); Làm nông nghiệp thu nhập thấp chiếm 43,8% (104 bị cáo).
- Tình trạng tái phạm: Thống kê TANDTC ghi nhận tỷ lệ tái phạm, tái phạm nguy hiểm là 3,1% (59/1.904 bị cáo). Mẫu khảo sát 140 bản án ghi nhận 14,3% (34/237 bị cáo) có tiền án, trong đó có 6 bị cáo (2,53%) tái phạm chính tội mua bán phụ nữ.
- Dân tộc: Toàn quốc có 343/1.904 bị cáo là người dân tộc thiểu số (chiếm 18%). Trong mẫu 237 bị cáo, người dân tộc thiểu số chiếm 27,43% (65 bị cáo).
4. Động thái và phần ẩn của tội phạm
- Động thái: Số vụ án xét xử giảm dần từ năm 1998 (173 vụ) xuống thấp nhất vào năm 2005 (65 vụ), sau đó tăng vọt trong hai năm 2006 (121 vụ) và 2007 (139 vụ).
- Phần ẩn: Tội mua bán phụ nữ có phần ẩn cao và thời gian ẩn kéo dài do nạn nhân bị chuyển giao ra nước ngoài, bị cô lập, mặc cảm hoặc không nhận biết mình bị lừa bán.
Chương 2: Nguyên nhân, điều kiện của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam
Chương 2 phân tích các yếu tố tác động làm phát sinh và gia tăng tội phạm mua bán phụ nữ theo hai nhóm:
1. Nhóm nguyên nhân, điều kiện chung
- Mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo, tác động của lối sống thực dụng và chạy theo lợi ích vật chất;
- Những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, quản lý cư trú, hộ tịch và kiểm soát an ninh trật tự tại cơ sở;
- Công tác quản lý xuất nhập cảnh, quản lý khu vực biên giới, đường mòn, lối mở còn nhiều khó khăn, bất cập.
2. Nhóm nguyên nhân, điều kiện đặc thù
- Điều kiện kinh tế và xã hội của nạn nhân: Đời sống kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh tại các vùng nông thôn, miền núi; trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng sống dẫn đến mất cảnh giác; một số trường hợp gặp trắc trở tình cảm, hôn nhân hoặc có lối sống buông thả, đua đòi.
- Đặc điểm tâm lý và động cơ của người phạm tội: Động cơ vụ lợi cá nhân cao, coi phụ nữ là món hàng sinh lợi; lợi dụng triệt để mối quan hệ thân tộc, bạn bè, xóm giềng để tạo vỏ bọc tin tưởng nhằm thực hiện hành vi lừa bán.
- Yếu tố cung - cầu quốc tế: Tình trạng mất cân bằng giới tính ở một số quốc gia láng giềng (đặc biệt là Trung Quốc) làm gia tăng nhu cầu mua phụ nữ về làm vợ; nhu cầu bóc lột tình dục và kinh doanh mại dâm ngầm xuyên quốc gia; sự hình thành các đường dây tội phạm móc nối giữa đối tượng trong nước và đối tượng mang quốc tịch nước ngoài.
Chương 3: Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam
Chương 3 xây dựng các dự báo khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa:
1. Dự báo tình hình tội phạm
- Tội mua bán phụ nữ tại Việt Nam trong những năm tiếp theo tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng tại các địa bàn trọng điểm;
- Tính chất tội phạm ngày càng tinh vi, phương thức lừa dối chuyển dịch sang hình thức môi giới hôn nhân hợp pháp, du lịch, xuất khẩu lao động;
- Hoạt động của các đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có xu hướng liên kết chặt chẽ hơn giữa các đối tượng trong và ngoài nước.
2. Các biện pháp phòng, chống tội mua bán phụ nữ
- Biện pháp kinh tế - xã hội: Thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ vốn, dạy nghề và tạo việc làm cho phụ nữ tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới.
- Biện pháp tuyên truyền, giáo dục: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, phổ biến các phương thức và thủ đoạn lừa dối của tội phạm; nâng cao nhận thức và cảnh giác cho người dân, đặc biệt là phụ nữ trẻ và đồng bào dân tộc thiểu số.
- Biện pháp quản lý nhà nước và hành chính: Siết chặt quản lý nhân khẩu, hộ tịch, tạm trú, tạm vắng; quản lý nghiêm các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện, trung tâm môi giới hôn nhân có yếu tố nước ngoài và doanh nghiệp xuất khẩu lao động; tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ khu vực biên giới và cửa khẩu.
- Biện pháp nghiệp vụ và hoàn thiện pháp luật: Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Công an, Bộ đội Biên phòng, Viện kiểm sát và Tòa án trong điều tra, truy tố, xét xử; xét xử kịp thời, nghiêm minh và kiên quyết áp dụng hình phạt bổ sung (quản chế, phạt tiền) theo Chỉ thị của Chánh án TANDTC; triển khai đồng bộ Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em (Chương trình 130/CP).
- Biện pháp hợp tác quốc tế: Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương (đặc biệt với Trung Quốc và Campuchia); thực thi đầy đủ Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư kèm theo; thiết lập cơ chế phối hợp trao đổi thông tin, điều tra, bắt giữ tội phạm và tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tái hòa nhập cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và vận dụng nhất quán khái niệm, các thuộc tính cấu thành tình hình tội phạm (mức độ, cơ cấu, tính chất, động thái) theo khoa học tội phạm học vào việc nghiên cứu chuyên biệt tội mua bán phụ nữ;
- Phân tích và làm sáng tỏ cơ chế tác động của các nhóm nguyên nhân, điều kiện chung và đặc thù đối với sự hình thành hành vi phạm tội mua bán phụ nữ trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng hệ thống dữ liệu thực chứng quy mô lớn trong 10 năm (1998–2007) trên phạm vi toàn quốc và phân tích chi tiết 140 bản án sơ thẩm tại 12 tỉnh thành;
- Xác lập hệ số tội phạm trên 100.000 dân đối với tội mua bán phụ nữ trên phạm vi toàn quốc và tại các địa phương trọng điểm (Quảng Ninh, Điện Biên, Bắc Kạn, An Giang, Bắc Ninh, Nam Định);
- Phát hiện các đặc trưng nổi bật: tỷ lệ đồng phạm cao (43,6%), thủ đoạn lừa dối chiếm ưu thế tuyệt đối (99,4%), tỷ lệ kết án theo khung hình phạt đặc biệt nghiêm trọng chiếm 97,46%, phần lớn nạn nhân tập trung ở độ tuổi 16–20 (61,4%);
- Đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa mang tính khả thi, gắn liền với việc thực hiện Chương trình 130/CP và định hướng nâng cao hiệu quả xét xử của ngành Tòa án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Dữ liệu nghiên cứu thực chứng chủ yếu dựa trên các vụ án đã bị phát hiện và đưa ra xét xử sơ thẩm trong giai đoạn 1998–2007; chưa phản ánh hết phần ẩn thực tế của tội phạm mua bán phụ nữ do tính chất xuyên quốc gia và thời gian ẩn kéo dài;
- Việc khảo sát các đối tượng chủ mưu, người mua mang quốc tịch nước ngoài gặp khó khăn do phần lớn các đối tượng này chưa xác định được danh tính hoặc chưa bắt giữ được để xử lý (toàn quốc chỉ có 17 bị cáo nước ngoài bị xét xử trong 10 năm và trong mẫu 140 bản án chỉ có 7 bị cáo mang quốc tịch nước ngoài);
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tội danh mua bán phụ nữ theo Điều 119 BLHS 1999, chưa mở rộng sang tội mua bán trẻ em hoặc các tội phạm mua bán người theo quy định sau này.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang tội phạm mua bán người nói chung theo sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật hình sự;
- Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp đo lường phần ẩn của tội phạm buôn bán người xuyên quốc gia;
- Nghiên cứu sâu về cơ chế hợp tác tư pháp quốc tế trong việc dẫn độ tội phạm và chính sách hỗ trợ phục hồi tâm lý, tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị mua bán.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân): Luận án cung cấp các căn cứ thực tiễn về phương thức, thủ đoạn lừa dối (lừa tìm việc làm chiếm 64,1%, lừa kết hôn chiếm 13,35%), đặc điểm đồng phạm có tổ chức và việc áp dụng khung hình phạt tăng nặng (Khoản 2 Điều 119 BLHS); gợi ý việc tăng cường áp dụng hình phạt bổ sung (quản chế, phạt tiền) nhằm răn đe và ngăn ngừa tái phạm.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo 130/CP: Dữ liệu về hệ số tội phạm và địa bàn trọng điểm (Quảng Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, An Giang...) là tài liệu tham khảo giá trị để hoạch định chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, phân bổ nguồn lực phòng ngừa tại khu vực biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận thực chứng trong tội phạm học, kết hợp phân tích định lượng chuỗi số liệu 10 năm với phân tích định tính hồ sơ vụ án hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô xét xử sơ thẩm tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 1998–2007 được thống kê như thế nào?
Trong 10 năm (1998–2007), Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm 1.086 vụ án với 1.904 bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ (bình quân 109 vụ và 190 bị cáo mỗi năm). Tội mua bán phụ nữ chiếm tỷ lệ 0,23% tổng số vụ phạm tội và 0,26% tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm trên toàn quốc; chiếm 1,42% số vụ và 1,76% số bị cáo bị xét xử về nhóm tội xâm phạm nhân thân (Chương XII BLHS 1999).
2. Tỷ lệ áp dụng khung hình phạt theo Điều 119 BLHS năm 1999 đối với tội mua bán phụ nữ trong mẫu khảo sát 140 bản án là bao nhiêu?
Trong số 237 bị cáo từ 140 bản án sơ thẩm được khảo sát, có 231 bị cáo (chiếm 97,46%) bị kết án theo Khoản 2 Điều 119 BLHS 1999 (khung hình phạt từ 5 năm đến 20 năm tù - tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) và chỉ có 6 bị cáo (chiếm 2,53%) bị xét xử theo Khoản 1 Điều 119 BLHS 1999 (khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù - tội phạm nghiêm trọng).
3. Thủ đoạn phạm tội phổ biến nhất và độ tuổi chủ yếu của nạn nhân được luận án làm rõ ra sao?
Khảo sát 337 nạn nhân từ 140 bản án cho thấy 99,4% (335 nạn nhân) bị xâm hại bằng thủ đoạn lừa dối (lừa tìm việc làm, buôn bán chiếm 64,1%; lừa gả chồng nước ngoài chiếm 13,35%; lừa rủ đi chơi, mua hàng, giả vờ yêu đương chiếm 21,96%; thủ đoạn dùng vũ lực chỉ chiếm 0,96%). Về độ tuổi, 61,4% nạn nhân ở độ tuổi 16–20 (207 người); 26,7% ở độ tuổi 21–25 (90 người) và 11,9% từ 26 tuổi trở lên (40 người).
4. Hệ số tội phạm mua bán phụ nữ trên 100.000 dân phân hóa như thế nào giữa các địa phương?
Hệ số bình quân toàn quốc giai đoạn 1998–2007 là 1,3 vụ và 2,26 bị cáo/100.000 dân. Tại các địa phương có sự chênh lệch lớn: tỉnh Quảng Ninh đạt 12,28 vụ và 19,9 bị cáo/100.000 dân; tỉnh Điện Biên đạt 3,92 vụ và 24,4 bị cáo/100.000 dân; tỉnh Bắc Kạn đạt 3,66 vụ và 6,67 bị cáo/100.000 dân; tỉnh Bắc Ninh đạt 1,59 vụ và 2,18 bị cáo/100.000 dân; tỉnh An Giang đạt 1,54 vụ và 2,17 bị cáo/100.000 dân; tỉnh Nam Định đạt 0,86 vụ và 1,57 bị cáo/100.000 dân; riêng tỉnh Bình Dương có hệ số bằng 0 do không có vụ án nào bị xét xử trong 10 năm.
5. Đặc điểm nhân thân về học vấn và nghề nghiệp của người phạm tội mua bán phụ nữ có tỷ lệ như thế nào?
Trong mẫu 237 bị cáo, về trình độ học vấn: không biết chữ chiếm 22,8% (54 bị cáo); tiểu học chiếm 37,5% (89 bị cáo); trung học cơ sở chiếm 29,7% (71 bị cáo); trung học phổ thông chiếm 10% (24 bị cáo). Về nghề nghiệp: không nghề nghiệp chiếm 21,9% (52 bị cáo); làm nghề tự do chiếm 34,2% (81 bị cáo); làm nông nghiệp hoặc nghề có thu nhập thấp chiếm 43,8% (104 bị cáo).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Văn Hưởng là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ tội phạm học về tình hình tội mua bán phụ nữ tại Việt Nam giai đoạn 1998–2007. Bằng việc kết hợp phân tích chuỗi số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc (1.086 vụ án, 1.904 bị cáo) với mẫu khảo sát 140 bản án tại 12 địa phương, công trình đã làm rõ các thông số định lượng và định tính về mức độ, cơ cấu, quy mô đồng phạm, thủ đoạn lừa dối và nhân thân người phạm tội. Luận án đã chỉ ra cơ chế tác động của các nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù dẫn đến sự hình thành tội phạm mua bán phụ nữ qua biên giới. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống dự báo và các biện pháp phòng ngừa toàn diện, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạt động tư pháp hình sự và công tác quản lý nhà nước tại Việt Nam.