Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Chương 4: Dự báo và các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài Trong thời gian gần đây tình hình các tội xâm phạm quyền SHTT có nhiều diễn biến phức tạp, đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và rất nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu tội phạm học ở các quốc gia như: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Australia, Cộng hòa liên bang Đức. Với nhiều cấp độ nghiên cứu và khía cạnh khác nhau về các tội xâm phạm quyền SHTT, các nhà nghiên cứu đã đưa ra không ít những luận cứ khoa học, những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các tội xâm phạm quyền SHTT. Trong số đó, có nhiều công trình mang tính khái quát cao ở tầm quốc gia và có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài luận án.
Tuy nhiên, sự khác biệt về chế độ chính trị, truyền thống pháp luật và tổ chức bộ máy nên mỗi quốc gia lại có cách thức phòng ngừa tội phạm khác nhau. Qua nghiên cứu một số công trình cho thấy, hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa một số loại tội phạm cụ thể luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý và tội phạm học, trong đó có một số công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm quyền SHTT như sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề dưới góc độ luật hình sự - Cuốn sách “Các tội phạm về sở hữu trí tuệ” (Intellectual Property Crimes) đăng trên Tạp chí Luật hình sự Hoa Kỳ (American Criminal Law Review) số 41:809 (2004) [225] của tác giả Onimi Erekosima và Brian Koosed. Các tác giả đề cập đến các tội phạm về SHTT dưới góc độ luật hình sự theo pháp luật Hoa Kỳ.
Các tội phạm như chiếm đoạt bí mật thương mại, giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, xâm phạm QTG, giả mạo sáng chế, tội phạm liên quan đến các tác phẩm nghệ thuật có giá trị đã được các tác giả phân tích từ dấu hiệu pháp lý đến các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự và hình phạt quy định. Việc phân tích dấu hiệu pháp lý của tội phạm cho thấy những tội phạm này có thể được thực hiện bởi các tổ chức, doanh nghiệp. Các tác giả bình luận về việc quyết định hình phạt đối với tội phạm này theo luật thành văn và theo các án lệ. - “Sổ tay luật sư Hoa Kỳ” (USAM), Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ, Các quy định về kết án, Hội thảo về thực thi quyền SHTT dành cho các Kiểm sát viên và Thẩm phán, (2007) [233].
Công trình đã khẳng định tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm được thể hiện bởi các hệ số thông thường, trong đó quan trọng nhất là mối đe dọa tiềm năng của hành vi đó đối với sức khỏe và sự an toàn, khối lượng xâm phạm, số lượng doanh thu và lợi nhuận, số người tham gia, mức độ tội phạm có tổ chức, mức độ tổn thất hoặc tổn thất tiềm năng của nạn nhân. Khi hành vi của đối tượng vi phạm có tính liên tục, nguy hiểm, vụ lợi, lừa đảo hoặc chiếm hữu thì việc áp dụng các 7 biện pháp chế tài phi hình sự sẽ không đủ mạnh để xử lý toàn bộ các đặc điểm sai trái của hành vi đó. Trong trường hợp này cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Truy cứu trách nhiệm hình sự có tác dụng hơn trong việc ngăn chặn các hành vi tái phạm của các đối tượng.
Các quy định về hành vi tái phạm trong luật pháp về SHTT và Tài liệu hướng dẫn về hoạt động kết án của Hoa Kỳ đều quy định rằng mọi hành vi tái phạm đều cần phải bị trừng phạt cứng rắn hơn. Ngoài tiền án của đối tượng vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét cả hành vi vi phạm về mặt dân sự trước đó của đối tượng đối với quyền SHTT. Nếu đối tượng coi các chế tài dân sự chỉ là chi phí kinh doanh thì việc áp dụng các chế tài hình sự là hoàn toàn cần thiết. Để xác định các hành vi vi phạm về mặt dân sự trước đó của đối tượng đối với quyền SHTT, cần căn cứ vào các hồ sơ tố tụng dân sự, bộ phận pháp lý của bên bị hại và các điều tra viên tư nhân và bất cứ cơ quan bảo vệ khách hàng nào mà khách hàng có thể khiếu nại.
Pháp luật Hoa Kỳ quy định cần đặc biệt cân nhắc khi quyết định kết tội các công ty và tổ chức kinh doanh khác. Các công ty và tổ chức kinh doanh khác thường được bị sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm quyền SHTT. - Theo “Mẫu cáo trạng và hướng dẫn của bồi thẩm đoàn về các hành vi giả mạo nhãn hiệu” (2007) [233] thì để kết tội một người với tội buôn lậu hàng hóa/dịch vụ giả mạo vi phạm Điều 18, Mục 2320 (a) của BLHS Hoa Kỳ, công tố viên phải chứng minh, làm rõ các nội dung sau: + Bị cáo đã buôn lậu hoặc có ý định buôn lậu hàng hóa/dịch vụ giả mạo: khái niệm buôn lậu được hiểu là vận chuyển, chuyển giao hoặc dùng vào việc khác cho người khác, để đổi lấy thứ có giá trị. + Hành vi buôn lậu là cố ý.
Hành vi được coi là “cố ý” nếu nó được thực hiện có tính toán hoặc có mục đích. Tuy nhiên, công tố viên không cần chứng minh rằng bị cáo đã có ý định phạm tội mà chỉ cần chứng minh rằng hành vi của bị cáo là có tính toán hoặc có mục đích. + Bị cáo đã sử dụng một nhãn hiệu giả mạo hoặc liên quan tới hàng hoá/dịch vụ đó. Nhãn hiệu giả mạo là nhãn hiệu sai, không thật hoặc không xác thực.
Nó trông giống hệt hoặc không khác biệt về cơ bản so với nhãn hiệu đang được sử dụng và đã được đăng ký sử dụng cho các hàng hóa và dịch vụ đó trong sổ đăng ký chính của Văn phòng Nhãn hiệu và Bằng sáng chế Hoa Kỳ và nhãn hiệu giả mạo là một nhãn hiệu mà việc sử dụng nhãn hiệu đó sẽ có khả năng gây nhầm lẫn, hiểu lầm hoặc lừa dối. Để xác định về khả năng gây nhầm lẫn, phải cân nhắc nhiều yếu tố bao gồm loại nhãn hiệu, sự giống nhau về kiểu dáng, loại sản phẩm, danh tính của các nhà bán lẻ và người 8 mua, sự giống nhau của các phương tiện quảng cáo, dự tính của bị cáo và bất cứ sự nhầm lẫn nào trên thực tế. Quy định của pháp luật không yêu cầu phải chứng minh rằng những người mua hàng trực tiếp có thể bị nhầm lẫn, hiểu lầm hay bị lừa dối mà chỉ cần chứng minh rằng bất cứ một người mua hàng nào trong công chúng, kể cả người chỉ nhìn thấy sản phẩm sau khi mua có thể bị nhầm lẫn, hiểu lầm hoặc lừa dối là đủ. Chính vì thế, nếu người bán hàng nói ngay với người mua rằng sản phẩm của anh ta không phải là hàng xịn thì hành vi đó không bị coi là tội phạm.
Để xác định khả năng gây nhầm lẫn, chỉ cần kiểm tra xem một khách hàng bình thường khi kiểm tra sản phẩm có bị lừa dối bởi sự tin tưởng rằng sản phẩm đó được sản xuất bởi chính chủ sở hữu nhãn mác thật hay không. + Bị cáo ý thức được rằng nhãn hiệu mà mình sử dụng là nhãn hiệu giả. Điều này có nghĩa là bị cáo có biết hoặc có cơ sở để tin rằng nhãn hiệu mà mình sử dụng là nhãn hiệu giả. Có thể chứng minh yếu tố này bằng các chứng cứ gián tiếp, như phương pháp mua hàng, cách thức giao hàng, các thỏa thuận về đóng gói và đặc biệt là mức giá thấp một cách bất bình thường.
- Cuốn sách “Chứng cứ” (Tái bản lần thứ hai) của tác giả Roderick Munday, Nxb Fitzwilliam College, Cambridge, năm 2003 [228]. Công trình đi sâu phân tích những nội dung cơ bản của luật chứng cứ cũng như tư duy sáng tạo trong việc áp dụng luật chứng cứ của Vương quốc Anh. Tác giả cũng đã phân tích các đặc điểm về nhân thân, trong đó đưa ra các tiêu chí xác định một người có nhân thân tốt là: (1) nếu bị cáo không có tiền án nào, thì theo luật Anh được coi là một căn cứ để xác định bị cáo là người có nhân thân tốt; (2) Tòa án có quyền bỏ qua hành vi vi phạm nào đó của bị cáo khi xác định liệu anh ta có đáng được coi là người có nhân thân tốt hay không; (3) trường hợp bị cáo có một tiền án nhưng đó là bản án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc về các tội có tính chất khác xa với tội phạm đang bị truy tố hoặc bị cáo là người đã cao tuổi hoặc đã thi hành xong hình phạt, thì Tòa án vẫn có thể không tính để xác định nhân thân xấu. Nếu bị cáo có nhân thân tốt thì bị cáo chứ không phải là thẩm phán phải đưa ra tình tiết đó.
Sau đó, thẩm phán có nghĩa vụ hướng dẫn cho bồi thẩm đoàn về tầm quan trọng của tình tiết này. - “Giới thiệu về luật hình sự xuyên quốc gia” (An Introduction to Transnational Criminal Law) của Neil Boister, Nxb Oxford University Press, 2012 [221]. Nội dung cuốn sách làm rõ những quy định trong các văn kiện quốc tế khuyến nghị các quốc gia hình sự hóa các hành vi phạm tội mang tính chất xuyên biên giới, xuyên quốc gia và quy định của pháp luật tố tụng hình sự để xử lý các tội phạm này. Công trình cũng đề cập đến lý luận tội phạm học và vấn đề phòng, chống tội phạm thông qua sử dụng công cụ pháp lý là các 9 hiệp ước đa phương và các Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, trong đó tập trung vào một số loại tội phạm xuyên quốc gia, như: cướp biển, mua bán người, tội phạm ma túy, khủng bố, rửa tiền, tội phạm mạng, tội phạm môi trường, buôn bán vũ khí, đặc biệt là tội phạm mới nổi là nhóm tội xâm phạm quyền SHTT.
Nhóm các công trình nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học - “Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại” (Crime and criminology in Japan) của Can Uea, Nxb Tiến Bộ, Moskva, năm 1989 [193].