CHƯƠNG 1: CAC VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE NHAN HIỆU. Khái niệm Nhãn hiệu.---- -- Q11 1 111111311 3 11111111 càng ng ng nh nh 5 1. Khái niệm Nhãn hiệu theo quy định của một số Điều ước Quốc tế. Khái niệm Nhãn hiệu theo quy định của một số nước Công nghiệp phát triển.
Khái niệm Nhãn hiệu theo quy định của Pháp luật Việt Nam. Các dấu hiệu cau thành Nhãn hiệu. Dau hiệu là chữ số, chữ cái.Dấu hiệu hình Vỡ. Dấu hiệu là hình ảnh, hình ảnh ba chiều.
Dấu hiệu kết hợp cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình được thé hiện bằng một hoặc HìH180¡Ÿ18~:SEŨŨŨŨ. Bảo hộ nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Khai niệm bảo hộ nhãn hiỆu. Diéu kién bao h6 han Wis ng.
Kha nang phân biệt của nhãn hiéu. Yêu cầu của pháp luật đối với kha năng phân biệt. Các dấu hiệu không có khả năng phân biệt qua đó loại trừ khả năng dùng làm nhãn 0 catmesamnsatoe enuresis mane stots: no ce snr eat re mond eS 29 CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH VA ĐÁNH GIÁ CAC YEU TO ANH HUONG DEN KHẢ NANG PHAN BIET CUA NHAN HIEU. Xác định các yếu tố anh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu.
Yếu tố dé nhận biết, dễ ghi nhớ, hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thé dé nhn 891g: Í)0n 1177. Không trùng hoặc không tương tự đến mức gây nhằm lẫn với nhãn hiệu khác. Không trùng không hoặc tương tự đến mức gây nhằm lẫn với các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người khác như: Tên thương mại; Chỉ dẫn 2. Cách thức đánh giá khả năng phân biệt nhãn hiệu.
Đánh giá khả năng phân biệt của dau hiệu chữ viết, chữ số (gọi là dấu hiệu chữ). Đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu hình vẽ, hình ảnh (gọi là dấu hiệu hình)49 2. Đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu kết hợp giữa hình va chữ. Đánh giá sự tương tự đến mức gây nhằm lẫn của dấu hiệu yêu cầu đăng ký với Titifn, TIỀN [KIEN sa san nhgngieh anh HH GH0,28000008000113010000017521010T01301008E239051E2320ĐIG01G010M/0800.NGHDGSXUNEE)SIGÓESUNi08087'N2G18808.
Đánh giá sự tương tu của hang hoá, dich vụ.--- << S1 re 62 CHUONG 3: THỰC TIEN ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHAN BIỆT CUA NHAN HIỆU TẠI VIỆT NAM VA MOT SO KIÊN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHAN BIET CUA NHÃN HIỆU. “hực tiễn đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu ở Việt Nam.1 Các trường hợp yêu cầu xác định tinh phân biệt của nhãn hiệu ở Việt Nam.2 Thực tiễn đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá khả năng phân biệt của sIiiiŸ1120012 7 e. Hoàn thiện hệ thống các yếu tố để xác định và đánh giá khả năng phân biệt của KiHfifi HĂỂU,.
tang «26065 ee TG8.I4000110381TE0N1,GHHEĐT2IHL3007g08285 310 78 3. Hoàn thiện pháp luật về hệ thống các yếu tố xác định và đánh giá khả năng phân 1289/6518) 0012. Dam bảo sự áp dụng thống nhất các yếu té để đánh giá khả năng phân biệt của nhãr hiệu giữa co quan xác lập quyền va các cơ quan thực thi pháp luật. CƠ SỞ KHOA HOC VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO là thành công lớn của Đảng và Nhà nước ta sau hơn 10 năm đàm phán, đánh dấu bước ngoặt mới trong tiễn trình phát triển và hội nhập.
Khi hội nhập thé giới, chúng ta sẽ được hưởng day đủ các ưu đãi như các nước thành viên khác nhưng cũng phải chấp nhận bước vào một sân chơi bình dang với mức độ cạnh tranh khốc liệt ở đó các thành phan kinh tế bình dang với nhau. Một yêu cau bắt buộc đối với các quốc gia khi hội nhập đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia để tương thích với hệ thống pháp luật thế giới và cải cách nền kinh tế. Năm bắt được điều này Việt Nam đã có những điều chỉnh cơ bản trong hệ thống luật pháp cũng như các chính sách của Nhà nước về các vấn đề kinh tế xã hội để sớm tương thích với sự phát triển chung của toàn cầu. Xuất phát từ vị trí vai trò Sở hữu trí tuệ nói chung trong đó hệ thống pháp luật về nhãn hiệu hiện nay đang là một trong những ngành luật được quan tâm nhất.
Để có thé hòa nhập vào sân chơi lớn thì vấn đề nắm bắt và hiểu biết co bản về nhãn hiệu để có những chiến lược phát triển lâu dài cho đất nước. Vấn đề cấp thiết hiện nay là chúng ta phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ. Như chúng ta đã biết, nhãn hiệu là công cụ hữu hiệu để chiếm lĩnh thị trường nhờ một phan vào sự phát triển của hệ thống thông tin quảng cáo, mặc dù nhãn hiệu không phải là sản phẩm, dịch vụ nhưng nó tạo ra một giá trị vô cùng to lớn cho chủ sở hữu nhãn hiệu cũng như người sử dụng nhãn hiệu bởi ý nghĩa xác định được những nét đặc trưng cơ bản để nhận biết sản phẩm, dịch vụ của các chủ thê kinh doanh khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, van dé bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có một vai trò quan trọng bởi nhãn hiệu như là một dấu hiệu riêng biệt chỉ riêng có đối với từng nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, điều đó thê hiện và khẳng định uy tín của nhà sản xuất trên thương trường.
Theo đó, người tiêu dùng có thể nhận ra và lựa chọn sản phẩm, dịch vụ quen dùng giữa hàng hoạt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thực trạng vi phạm bảo hộ nhãn hiệu đang diễn ra ngày càng phức tạp dưới nhiều hình thái khác nhau. Mặc 1 dù nhãn hiệu là dau hiệu quan trọng nhất đề phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường song nó không có tính bí mật và đương nhiên rất dễ bị bắt chước. Vì thế có những cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc cá nhân lợi dụng nhược điểm trên của nhãn hiệu dé sử dụng nhãn hiệu trái phép nhằm thu lợi bat chính cho mình, điều này dẫn đến tình trạng các nhãn hiệu có uy tín bị sao chép và làm nhái, thực tế đã có nhiều vụ việc vi phạm nhãn hiệu xảy ra đã bị các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý như vụ làm giả nhãn hiệu bột ngọt “AJINOMOTO” hay thuốc lá “MALBORO” hoặc sự nhái nhãn mác của “LAVIE”, “OMO”.
Bên cạnh đó, một thực tế cho thay là chúng ta chuyển sang nên kinh tế thị trường chưa lâu, phần lớn các doanh nghiệp thường chú trọng đến khâu sản xuất sản phẩm, mở rộng thị trường mà chưa chú trọng đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu. Điều này dẫn tới tình trạng sau khi nhãn hiệu có uy tín trên thương trường trong nước và quốc tế rồi thì lại không được đăng ký bảo hộ thích hợp và bi các chủ thé khác lợi dụng. Cụ thé như nhãn hiệu bút bị Thiên Long bị vi phạm ở Trung Quốc, nhãn hiệu bánh Kinh Đô bị lợi dụng ở Mỹ, ngay cả tổng công ty lớn có quy mô nhất Việt Nam là Petro Việt Nam cũng có nguy cơ bị tước đoạt nhãn hiệu trên thị trường của mình vì không có sự chú trọng đầy đủ tới việc bảo hộ nhãn hiệu. Thực tế cho thấy, trong những năm gan đây, số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Cục Sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên đáng kể, điều đó chứng tỏ sự nhận thức về giá trị, vai trò của nhãn hiệu trong xã hội đã thay đôi.
Tuy nhiên, các biện pháp cũng như cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chưa thực sự hiệu quả, làm giảm vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Tình trạng vi phạm nhãn hiệu diễn ra khá phổ biến, thậm chí với cả những doanh nghiệp lớn có uy tín không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường quốc tế. Trường hợp của Petro Việt Nam và Café Trung Nguyên là những ví dụ điển hình. Trước thực trạng trên, một điều cần phải thừa nhận rang do nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp, với một lịch sử hình thành và phát triển chưa lâu, hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu còn khá nhiều bất cập.
Mãi đến năm 2005 Việt Nam mới có một đạo luật riêng về SHTT quy định chi tiết về các van dé Sở hữu trí tuệ và vấn dé bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ. Trước đó, việc bảo hộ trên thực tiễn chủ yếu chỉ dựa vào một phần trong Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản dưới luật do Chính phủ và Bộ chủ quản ban hành, do vậy nó có tính 6n định không cao và thiết chế tô chức bảo hộ chưa được tô chức phù hợp và chặt chẽ. Trước những tình hình thực tế như trên, tác giả mạnh dạn chọn dé tài “Xác định kha năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam” với mong muốn có cơ hội nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về nhãn hiệu đặc biệt là các quy định về tính phân biệt và khả năng phân biệt giữa các nhãn hiệu với nhau để tránh tình trạng gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến uy tín của các chủ sở hữu cũng như góp một phần nhỏ bé vào việc xác định các tiêu chí cụ thê để phân biệt các loại nhãn hiệu với nhau, góp phần làm cho hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam ngay càng hoàn thiện hơn phù hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế. MỤC DICH CUA DE TÀI Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhãn hiệu, về tính phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam để từ đó xác định được các tiêu chí phân biệt nhãn hiệu với nhau, qua đó làm sáng tỏ các quy định tương ứng trong Luật SHTT.
Hơn nữa, việc nghiên cứu góp phần phát triển hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam theo hướng phù hợp và hoàn thiện hơn để tương thích với pháp luật thê giới. Với đề tài này, tác giả mong muốn có thê xác định được các tiêu chí để phân biệt nhãn hiệu của chủ thể này với chủ thể khác, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật về nhãn hiệu và tạo điều kiện để các chủ thể khi tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho mình được thông suốt, cũng như bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu một cách có hiệu quả.