CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆM ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái niện nhãn hiệu và vai trò của nhãn hiệu trong việc phân biệt hàng hóa dịch vụ .Khái niệm về nhãn hiệu: Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) được sử dụng lần đầu tiên trong một văn bản pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHCN là Công ước Pari năm 1886. Tiếp đó, vào năm 1994, Hiệp ước luật nhãn hiệu được ký kết với mục tiêu đơn giản hóa và hài hòa các quy định về thủ tục và yêu cầu hành chính của hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc gia và khu vực.
Mặc dù không đưa ra một khái niệm cụ thể nhưng thông qua việc liệt kê các nhãn hiệu được áp dụng, Hiệp ước đó khẳng định các đặc tính bản chất của nhãn hiệu: "được cấu tạo bởi các dấu hiệu nhìn thấy được". Cũng tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 của Hiệp ước quy định "Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi". Tuy nhiên, nhãn hiệu ba chiều sẽ được thừa nhận "với điều kiện là chỉ có những bãn ký kết chấp nhận việc đăng ký nhãn hiệu ba chiều mới bắt buộc phải áp dụng Hiệp ước này đối với các nhãn hiệu đó. Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) đó mang lại cho SHTT những đóng góp to lớn khi đưa ra khỏi niệm hoàn chỉnh về nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 15: Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng 15 phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa.
Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được. Như vậy, khái niệm nhãn hiệu đó được mở rộng phạm vi và cụ thể hơn rất nhiều so với Hiệp ước Luật nhãn hiệu.
Trên cơ sở điều ước quốc tế đó ký kết và đáp ứng tình hình thực tiễn của đất nước, Bộ luật Dân sự Việt Nam đó định nghĩa: "Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dựng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa cụ thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc" [36, Điều 785]. Có thể nói, quy định này đó thể hiện tính mở bởi việc sử dụng cụm từ "có thể là" hoàn toàn mang tính chất gợi ý, không bắt buộc. Khoản 1 Điều 6 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đó đưa ra khái niệm cụ thể và gắn với các chuẩn mực quốc tế hơn.
Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu 16 dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Khi Luật SHTT (LSHTT) năm 2005 ra đời, lần đầu tiên thuật ngữ "nhãn hiệu" được sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc gia bởi lẽ trước đây "nhãn hiệu hàng hóa" được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ. Điểm 16 Điều 4 LSHTT định nghĩa: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức , cá nhân khác nhau” như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mản điều kiện phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi là nhãn hiệu.
Tính mở và tính khái quát của quy định cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu. Tuy nhiên, đặt trong trong bối cảnh của Việt Nam, quy định trên sẽ gây khó khăn cho quá trình áp dụng thống nhất pháp luật. Bởi vậy, Khoản 1 Điều 72 LSHTT đó thu hẹp phạm vi bảo hộ bằng việc quy định: "Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Là dấu hiệu nhãn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc" [35].
Việc quy định tách rời thành hai điều luật khác nhau là không cần thiết và có khả năng gây hiểu lầm cho các chủ thể khi lựa chọn các dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu. Theo tôi, có thể hợp nhất hai quy định này trong một khái niệm chung: Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc. Nhìn chung, định nghĩa về nhãn hiệu trong pháp luật SHTT Việt Nam và các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau nhất định nhưng đều 17 phản ánh được đặc điểm mang tínhh bản chất của nhãn hiệu, đó là tạo khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau. Vai trò của nhãn hiệu trong việc phân biệt hàng hóa dịch vụ.
Một cách rất tự nhiên, ngay từ thời cổ đại con người đã có ý muốn cá biệt hóa kết quả sản phẩm lao động của mình bằng cách sử dụng các dấu hiệu khác nhau: Tên gọi riêng, ký hiệu riêng, tên gọi địa lý. “Nhiều bằng chứng cho thấy, từ thời cổ đại các nhà sản xuất đã sử dụng các dấu hiệu để chỉ ra nơi ở của mình (Tức nơi xuất sứ hàng hóa). Ví dụ: Khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên đã xuất hiện những dấu hiệu dùng để phân biệt các loại rượu vang của Hy lạp, mật ong Xixili”. qua khoảng thời gian lâu dài, với những kinh nghiệm sản xuất phong phú được tích lũy, những nơi mà có thêm điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất sản phẩm được trở thành những vùng chuyên sản xuất sản phẩm đó, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.
tên vùng, tên khu vực đó được nổi tiếng và khi nhắc đến chúng ta liên tưởng ngay đến các sản phẩm đặc trưng có chất lượng cao của vùng. Vì vậy, đã hình thành nên quy luật sử dụng các dấu hiệu địa lý cho các sản phẩm uy tín xuất sứ từ vùng, khu vực nổi tiếng đó. Nhãn hiệu từ lâu đã được sử dụng để nhận biết nguồn gốc của sản phẩm. Có bằng chứng về việc từ xa xưa tới 4.000 năm về trước thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn độ và Ba Tư đã sử dụng chữ ký của họ hoặc biểu tượn để phân biệt sản phẩm của họ.
thợ gốm La Mã đã sử dụng hơn 100 nhãn hiệu khác nhau để phân biệt tác phẩm của mình, nổi tiếng nhất là nhãn hiệu Fortis mà nhiều sản phẩm giả đã bắt chước. Ban đầu, nhãn hàng hóa chỉ có một vai trò duy nhất là công cụ giúp nhà sản xuất gây ấn tượng với người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển kinh 18 tế, trình độ hiểu biết của người tiêu dùng, nhãn hàng hóa ngày nay có nhiều vai trò khác nhau. Vai trò quan trọng nhất của nhãn hàng hóa đó là cung cấp các thông tin cơ bản về hàng hóa đến người tiêu dùng, đảm bảo người tiêu dùng khai thác hiệu năng và bảo quản hàng hóa hiệu quả nhất.
Nhãn hàng hóa còn là một trong những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của thương nhân này với thương nhân khác, là công cụ để thương nhân quảng cáo thương hiệu của mình, hạn chế hàng giả mạo, kém chất lượng. Nhãn hàng hóa còn được các thương nhân sản xuất hàng hóa sử dụng để quảng cáo cho thương hiệu, sản phẩm của mình. Tác giả Tony Holkham đã nói rằng : Nhãn hàng hóa là cơ hội để các công ty nói chuyện với khách hàng. Trong bối cảnh thị trường hàng hóa đa dạng và phong phú, nhãn hàng hóa sẽ thu hút sự chú ý của người tiêu dùng bằng những hình ảnh, màu sắc bắt mắt nhất, không chỉ vậy các thương nhân còn có thể sử dụng ngôn ngữ trên nhãn hàng hóa để quảng cáo cho sản phẩm của mình bằng phương pháp nhấn mạnh đặc tính, đặc thù riêng của hàng hóa.
Có thể thấy nhãn hiệu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường cụ thể: * Vai trò của nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đối với nền kinh tế: Nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, theo chúng tôi thực hiện hai chức năng kinh tế vĩ mô chủ yếu đs là (1) giúp người tiêu dùng quyết định về sự lựa chọn của họ đối với sản phẩm trên thị trường; (2) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào việc phát triển, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng mà người tiêu dùng mong muốn. Hiện nay, khi nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa 19 nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tầm quan trọng về kinh tế, văn hóa của quyền sở hữu công nghiệp đã tăng lên đáng kể. sự thay đổi nhận thức về quyền sở hữu công nghiệp xuất phát từ chính sự thay đổi nội tại của nền kinh tế.