CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE HANH VI XÂM PHAM QUYEN BOI VỚI NHÂN HIỆU VÀ CAC BIEN PHÁP XỬ LÝ 111. Những van đề lý luận về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 1. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền đối với nhân hiệu Đề lam rõ khái niệm “hank vi xâm pham quyền đối với nhãn liệt” thì can lam rõ mét số khái niệm có tính chất tiên dé, trong đó bao gồm khái niệm “nhãn hiệu” và khái tiệm “xâm pham quyền SHCN đối với nhãn hiệu ”. Dén tiền, về Rhái niệm “nhãn hiệu” Nhấn hiệu la một thuật ngữ đã được sử dụng từ rất lâu trên thể giới, va trong thực tê, pháp luật các quóc gia, về cơ bản cũng giống nhau trong việc đưa ra khái niệm của nhấn hiệu, dua trên sự thong nhất trong khung cơ bản ma các văn ban quốc tế, tô chức quốc tế đưa ra Khái niệm được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ WIPO đưa ra: Một nhấn hiệu hàng hóa la bat kì dâu hiệu nào có khả năng phân biết hang hóa của doanh nghiệp này với hang hóa của các đối thủ cạnh tranh.
Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS đưa ra khải niệm nhấn hiệu: “Bat ki dấm hiệu hoặc tỗ hop các đấm hiệu nào có kha năng phân biệt hàng hóa, dich vụ của một doanh nghiệp với hành hóa. dich vụ của doanh nghiệp khác, đều có thé làm nhãn hiệu hàng hóa Các đấm hiện đó, đặc biệt ia các tie kễ cả tên riêng. chữ cái, chit số, các yếu tô hình hoa và tễ hợp các màu sắc ciing như t6 hop bat kì của các dấu hiệu đỏ phải có kha năng được đăng kí nhấn hiện hàng hóa Trong trường hợp bản thân các dém hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dich vụ tương ứng. các thành viên có thé guy đình rằng kha năng duoc đăng kí phụ thuộc vào tinh phân biệt duoc xác dink thông qua việc sử dụng.
Các thành viên có thé quy dinh rằng điều kiện đề được đăng ki là các dẫm hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấp được”. } ` Kho s 1 Đều 15 Hếp định TRIPS Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2010 và 2022 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT) có quy định: nến hiệu là đấu hiệu ding dé phân biệt hàng hóa. dich vụ của các tô cinte, cá nhân khác nhưm. ? Như vậy, nhìn chung vé các khái niệm của nhãn hiệu được nêu ra ở trên thì có thé thay, nhãn hiệu là dâu hiệu, la biểu tương cho hang hóa, dich vụ của chủ sở hữu, nhằm phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu khác trong cùng hoặc một lĩnh vực liên quan.
Qua các khải niệm trên thì pháp luật quốc tế cũng mỡ rộng phạm vi các đối tượng có thé trở thảnh nhãn hiệu lên mức tối đa, bao trùm phạm vi của luật quốc gia. Tuy nhiên, trong điều khoản van để ngé cho các quốc gia thanh viên được tự nêu quy định riêng, pham vi riêng, đối tượng riêng dé có thể quan lý. Ví dụ, ở Việt Nam chưa có quy định cho phép đăng ki nhãn hiệu cho dau hiệu là mii vị. Sự khác nhau ở đây là do pháp luật mỗi quốc gia la khác nhau, trình độ quan lý, khoa hoc ki thuật cũng khác nhau, vậy nên pham vi cho phép các đối tương trở thành nhãn hiệu cũng khác nhau.
Thứ hai, về khái niệm “xâm phạm quyền SHCN đối với nhấn hiệu “ %Xâm phạm quyên SHCN đối với nhãn hiệu lả một dạng vi pham pháp luật đối với tải sản vô hình là nhãn hiệu. Mang đặc trưng giống như các vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm quyền SHCN đối với nhấn hiệu là hiện tương xã hôi, tệ nan trong xã hội, là những hành vi phan ứng tiéu cực của môt số cá nhân hoặc tô chức đi ngược lại với ý chí của nhà nước được quy định trong pháp luật. Xâm phạm quyền SHCN đổi với nhấn hiệu cân phải bị xử lý để dam bảo quyên của chủ sở hữu nhãn hiệu, bao dam môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ loi ích của toàn xã hội. Như vây, có thể hiểu xm phạm quyền SHCN đối với nhấn hiệu là việc chủ thể không phải là người nắm giữ quyền thực hiện các hảnh vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quan hé pháp luật về quyên SHCN đối với nhãn hiệu được pháp luật SHTT xác lập và bảo về.
? Khoas 16 Điều 4 LưitSHTT Từ đó, có thể đưa ra khái niệm, hảnh vi xâm phạm quyền SHCN đôi với nhãn hiệu là hành vi vi phạm pháp luật biểu hiện qua xử sự trái pháp luật của chủ thể hình thảnh trên cơ sở nhân thức, được thể hiện trên thực tế đưới dạng hảnh động xâm hại đền quan hệ pháp luật về quyên SHCN đổi với nhãn hiệu được pháp luật SHTT xac lập va bảo vệ. Đặc điểm của hành vi xâm phạm quyên đối với nhãn hiệu Ngoài ra, giữa các khái niệm cũng nêu được những đặc điểm pháp lý chung cơ bản sau: Thứ nhất, là hành vi xâm phạm quyền với đối tương mang tinh chỉ dẫn thương mai, dua trên kha năng phân biệt của người tiêu ding Chỉ dẫn thương mai la cơ sở quan trọng dé người tiêu dùng nhân biết sản phẩm của một doanh nghiệp cụ thể và là những dâu hiệu để phân biệt chúng trong những sản phẩm cùng loại trên thi trường Những hanh vi xâm phạm thường nhắm vào đối tương là chỉ dẫn thương mại gây nhầm. lẫn là chỉ dẫn thương mai chứa các dầu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ thể quyên yêu cau xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh được sử dụng cho hang hoa, dich vụ trùng hoặc tương tự Việc sử dụng chỉ dẫn nêu trên nhằm mục đích gây nhằm lẫn cho người tiêu dùng. Thứ hai, hành vi xâm phan quyền đối với nhãn hiệu Guoc xác dinh dựa trên việc đánh: giá dấu hiên và hang hóa.
dich vụ mang dấu hiệu. Dé zác định một dâu hiểu bi nghỉ ngờ có phải là yêu tô xâm phạm quyên đối với nhấn hiệu hay không, cân phải so sánh dâu hiệu đó với nhấn hiệu, đông thời phải so sánh hang hóa, dịch vụ mang dầu hiệu đó với hang hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tô xâm phạm khi đáp ứng cả hai điêu kiện sau đây: Dau hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhằm lẫn với nhấn hiệu thuôc phạm vi bao hộ; trong do một dâu hiệu bị coi la trùng với nhấn hiệu thuéc phạm vi bảo hộ néu có cùng câu tạo và cách thức thé hiện, một dâu hiệu bi coi là tương tư đến mức gây nhâm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nêu có một sô thành phan hoàn toan trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dé dang phân biệt với nhau về câu tao, cach phát âm, phiên âm, ý nghĩa, cách trình bay, mau sắc đối với dau hiệu nhìn thay được, nhạc điệu, âm điệu đối với dau hiệu âm thanh vả việc sử dụng dâu hiệu co kha năng gây nhâm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ mang nhấn hiệu. Hang hóa, dich vụ mang dâu hiệu bi nghi ngờ trùng hoặc tương tự về ban chất hoặc về chức năng, công dung và có cùng kênh tiêu thụ với hang hoa, dich vụ thuộc phạm vi bảo hô, hoặc có mỗi liên quan với nhau về bản chất hoặc chức năng hoặc phương thức thực hiện.
Cơ sở xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Việc xác định hành vi xâm phạm, cùng với việc hiểu rõ tinh chat va mức độ của hành vi xâm phạm, còn phải căn cử vao những tiêu chi nhất định. Theo quy định tại Điều 72 Nghị định 65/2023/NĐ-CP về xác định hành vi xâm phạm Theo đó, hành vi bị xem xét bi coi là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu quy đính tại Điều 129 của Luật SHTT, khi có day đủ các căn cử sau đây: “1. Đối tương bị xem xét thuộc pham vì các đối tương dang được bảo hộ; 2. Có yễu tễ xâm phạm trong đôi tương bi xem xét; 3.
Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải la chủ thé quyền SHCN quyền đối với giống cay trông và không phải ia người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo guy đình tai khodn 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, khoản 3 Điều 133a, Điều 134 Khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật SHTT: 4 Hanh vi bị xem xét xáy ra tại Viet Nam. Hanh vi cũng bị coi iaxay ra tại Việt Nam nêu hanh vi đó xá) ra trên mang Internet và được thực hiện trên trang thông tin điện tử dưới tên miền Việt Nam hoặc có ngôn ngit hiển thi ia tiếng Điệt hoặc nhằm vào người tiên ding tai Việt Nam“ 3 3 Điều 72ND 65/20B/NB-CP Thứ nhất. về đỗi tương bị xem xét thuộc phạm vi dang được bảo hộ Đôi tượng bị xem xét là đôi tượng bị nghi ngờ vả bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đôi tương xâm pham hay không. Việc xác định đổi tương bảo hộ bằng cách xem xét các tai liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phat sinh, xác lập quyên theo quy định của Luật SHTT, trong đó: Đôi với nhãn hiệu thông thường đã được đăng ký tại cơ quan có thâm quyền, đối tượng được bảo hộ được xác định theo giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bão hộ và các tai liệu kèm theo giây chứng nhận đăng ký, văn bằng bao hộ đó.
Đôi với nhấn hiệu nỗi tiếng, đôi tương được bảo hộ được xác định trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thé hiện sự nôi tiếng của nhấn hiệu theo các tiêu chí theo quy đính của Luật SHTT.