CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG 1. Tổng quan về nhãn hiệu nổi tiếng 1. Khái quát về nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu là khái niệm sử dụng rộng rãi và phổ biến trong đời sống xã hội, tuy nhiên ở mỗi chuyên ngành khác nhau sẽ có định nghĩa dưới các góc độ tương ứng về nội hàm của nhãn hiệu.
Nguyễn Thị Thủy (2018, 16)8 đề cập “Nghiên cứu của các nhà khảo cổ học đã xác định được những dấu hiệu đầu tiên trên thế giới ra đời từ thời cổ đại, khi những người thợ hoặc công trường thủ công sử dụng những dấu hiệu riêng trên đồ gốm, đồ trang sức, vũ khí… để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác khi thực hiện việc trao đổi, buôn bán các sản phẩm đó”. Khi được luật hóa thì nó được định nghĩa tùy thuộc vào luật từng quốc gia. Đối với WIPO thì định nghĩa: nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau”. Còn Luật SHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2019, 2022 (sau đây được gọi chung là Luật SHTT 2005) cũng đưa ra định nghĩa nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau9.
Từ những khái niệm trên thì nhãn hiệu cơ bản được hiểu là dấu hiệu để phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức sở hữu nhãn hiệu đó. Phân loại nhãn hiệu Khi phân biệt các loại nhãn hiệu với nhau thì có rất nhiều cách như: dựa theo yếu tố cấu thành để chia thành nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình (hay còn gọi là logo) hoặc nhãn hiệu kết hợp. 8 Nguyễn Thị Thủy (2018), “Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn Lâm, xem thêm tại https://vannghiep.vn/wp-content/uploads/ 9 Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005 8 Tuy nhiên, hiện nay để đơn giản về mặt quản lý và thủ tục đăng ký nhãn hiệu độc quyền thì nhãn hiệu được chia làm năm (05) loại chính sau đây: Thứ nhất, nhãn hiệu tập thể10: được hiểu là nhãn hiệu phân biệt hàng hóa dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa dịch vụ của tổ chức cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Ví dụ: Nhãn hiệu tập thể Rượu đế Gò Đen đại diện chủ sở hữu là Hội Sản xuất rượu đế Gò Đen - Long An; nhãn hiệu tập thể Trà Thái Nguyên chủ sở hữu là Hội nông dân tỉnh Thái Nguyên,… Thứ hai, nhãn hiệu chứng nhận11: là nhãn hiệu dùng để chứng nhận rằng sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu đảm bảo các đặc tính, nguyên liệu, xuất xứ, vật liệu, chất lượng, độ chính xác… đã được đăng ký xác lập từ trước do một tổ chức có chức năng chứng nhận sở hữu và quyết định việc cho phép sử dụng.
Ví dụ: Nhãn hiệu chứng nhận “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, chứng nhận ISO 9001… Thứ ba, nhãn hiệu liên kết: là các nhãn hiệu đáp ứng đủ các tiêu chí, cùng một chủ sở hữu đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho các sản phẩm/dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau có liên quan tới nhau. Ví dụ: Tập đoàn Vingroup đã đăng ký nhãn hiệu liên kết cho các nhãn hiệu thuộc sở hữu của tập đoàn như: Vingroup, Vinhomes, Vincom Retail, Vinpearl Golf, VinDs, Vinmec. Thứ tư, nhãn hiệu nổi tiếng12: là nhãn hiệu được bộ phận công chúng có liên quan biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. 10 Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT 2005 11 Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT 2005 12 Điều 75 Luật SHTT 2005: “Việc xem xét, đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng được lựa chọn từ một số hoặc tất cả các tiêu chí sau đây: 1.
Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; 2. Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; 3. Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 4. Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 5.
Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; 9 Ví dụ: Vinamilk, IKEA, Vinacafe, Nike, Coca-Cola, Pepsi… Thứ năm, nhãn hiệu có chứa dấu hiệu địa lý13: đây là một dạng nhãn hiệu đặc biệt, trong đó nhãn hiệu bao gồm một yếu tố địa lý (tên huyện, tỉnh, khu vực). Nhãn hiệu có chứa dấu hiệu địa lý có thể là nhãn hiệu thông thường (không bảo hộ phần tên địa danh) hoặc nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận hoặc chỉ dẫn địa lý. Ví dụ: nước mắm Phú Quốc, vải thiều Lục Ngạn, thanh long Bình Thuận… 1. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Theo quy định tại Điều 72 Luật SHTT 2005 nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng một số hoặc tất cả các tiêu chí gồm: Thứ nhất, nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới hình thức chữ viết, từ ngữ, hình ảnh, ký hiệu, kể cả hình ba chiều hoặc việc phối hợp các dấu hiệu đó, được biểu hiện bởi một hoặc nhiều màu sắc.
Điều kiện này được định nghĩa là nhãn hiệu cần phải được nhận thức, phân biệt bởi giác quan của con người, qua đó nhằm phân biệt hàng hoá dịch vụ mang nhãn hiệu này với hàng hoá dịch vụ khác. Tuy nhiên, tự do sáng tạo và kinh doanh được đảm bảo, luật pháp cũng đề ra một số điều khoản quan trọng để đảm bảo công bằng và tránh sự nhầm lẫn, xâm phạm quyền lợi của các bên liên quan. Cụ thể, các dấu hiệu sẽ không được bảo vệ nếu chúng có những đặc điểm sau: Trùng hoặc tương tự với hình quốc kỳ, khẩu hiệu của các quốc gia: Điều này nhằm tránh việc sử dụng các biểu tượng quốc gia một cách không phù hợp và làm mất uy tín; Trùng hoặc tương tự với biểu tượng, quốc kỳ, khẩu hiệu, tên chữ viết tắt, tên gọi của các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị: Điều này nhấn mạnh việc không sử dụng trái phép các dấu hiệu của các tổ chức chính trị, xã hội mà không có sự đồng ý từ phía chính phủ hoặc tổ chức tương ứng; Trùng hoặc tương tự với tên gọi, biệt hiệu, tên riêng hoặc biểu tượng của các nhà lãnh đạo, anh hùng dân tộc: Quy định này nhằm tránh việc lạm dụng danh tiếng và uy tín của các nhân vật quan trọng trong lịch sử và xã hội; Trùng hoặc tương tự với dấu chứng nhận, dấu 13 Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT 2005 10 kiểm tra hay dấu bảo hành của các tổ chức quốc tế: Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của các tổ chức quốc tế và tránh sự lạm dụng hay làm giả các dấu hiệu này. Trường hợp duy nhất có thể sử dụng là khi doanh nghiệp đã sử dụng các dấu trên làm biểu trưng khi hàng hoá được kiểm tra; Dấu hiệu làm người sử dụng nhận thức sai lệch sự thật hoặc có tính gian dối đối với xuất xứ của hàng hoá hay dịch vụ.
Thứ hai, khả năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá và dịch vụ của một chủ thể khác cần được thể hiện. Nhãn hiệu có khả năng phân biệt khi được tạo ra từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ việc kết hợp nhiều yếu tố thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ. Đồng thời, nó không thuộc vào các trường hợp bị xem là không có khả năng phân biệt theo quy định sau đây: Hình và hình học giản đơn, con số, chữ viết, hình vẽ thuộc bất kỳ ngôn ngữ không phổ biến, trừ khi các dấu hiệu trên đã được sử dụng và công nhận rộng rãi với tư cách một nhãn hiệu; Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, nhãn hiệu hoặc tên gọi phổ biến của sản phẩm, dịch vụ thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào được sử dụng phổ biến, rộng rãi và nhiều người biết đến; Các dấu hiệu chỉ sự thời gian, địa điểm, quy trình sản xuất, thành phần, công dụng, chất lượng, hoặc các đặc tính khác có tính mô tả về hàng hóa hoặc dịch vụ không thể được nhận biết thông qua việc sử dụng tại thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu nếu không được đăng ký trước với tư cách một nhãn hiệu hoặc đã được sử dụng dưới danh nghĩa nhãn hiệu hàng hoá hoặc nhãn hiệu dịch vụ quy định tại Luật SHTT 2005; Các dấu hiệu chỉ hình thức pháp lý hoặc lĩnh vực hoạt động của chủ thể kinh doanh cũng không được phép sử dụng nếu chúng gây ra sự nhầm lẫn với các nhãn hiệu khác đã được đăng ký; Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc dịch vụ không được sử dụng nếu đã có người khác sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa hoặc dịch vụ trước ngày nộp đơn đăng ký, chúng phải theo quy định chung của pháp luật; 11 Ngoài ra, các dấu hiệu trùng hoặc tương tự không được phép sử dụng nếu chúng gây ra sự nhầm lẫn với các nhãn hiệu đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi bởi người khác trước ngày nộp đơn; Có những dấu hiệu bị trùng hoặc tương tự đến mức có thể gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ tương tự và đã chấm dứt hiệu lực không quá 05 (năm) năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì việc không sử dụng nhãn hiệu theo quy định tại điểm d khoản 1 của Điều 95 Luật SHTT năm 2005; Những dấu hiệu này cũng có thể bị xem là trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác và đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc không tương tự. Việc sử dụng các dấu hiệu này có thể gây phương hại đến khả năng nhận biết của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc sử dụng để lạm dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng; Ngoài ra, cũng có trường hợp các dấu hiệu bị trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng bởi người tiêu dùng.