CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIỆU CHUYỂN ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu chuyển động 1. Khái niệm nhãn hiệu chuyển động Theo Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế (INTA), nhãn hiệu được phân thành hai loại chính bao gồm nhãn hiệu truyền thống và NHPTT7. Tuy không tồn tại bất kỳ mô tả hay định nghĩa nào về NHPTT nhưng trên tinh thần pháp luật của một số quốc gia phát triển, có thể hiểu: NHPTT là bất kỳ loại nhãn hiệu mới nào không thuộc danh mục nhãn hiệu đã được liệt kê trước đó (như chữ cái, chữ số, logo, biểu tượng,… hay sự kết hợp của một hoặc nhiều yếu tố này) nhưng vẫn có thể thực hiện các chức năng cơ bản của nhãn hiệu.
Trên cơ sở đó, các dấu hiệu chuyển động nếu đáp ứng điều kiện về chức năng cũng sẽ trở thành một loại NHPTT. Tính phi truyền thống thể hiện ở các yếu tố chuyển động được bao gồm trong loại nhãn hiệu này. Hiện nay, dưới góc độ pháp luật, chưa tồn tại khái niệm nhãn hiệu chuyển động. Do vậy, khái niệm nhãn hiệu chuyển động sẽ được tìm hiểu thông qua việc nghiên cứu kết hợp giữa định nghĩa nhãn hiệu và định nghĩa về yếu tố chuyển động.
Thứ nhất, định nghĩa về nhãn hiệu Ở thời kì đầu, mỗi quốc gia, mỗi khu vực pháp lý sẽ có cách thức xác định nhãn hiệu khác nhau. Điều này dẫn đến định nghĩa nhãn hiệu cũng có những nét khác biệt nhất định ở từng khu vực. Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa Kỳ - quốc gia tiên phong trong việc thừa nhận bảo hộ nhãn hiệu: “Nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên, biểu tượng hoặc hình vẽ nào hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng được sử dụng bởi một người hoặc được người đó có ý định thực sự là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này nhằm mặc định và phân biệt hàng hóa của người đó với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi người khác và để chỉ rõ nguồn gốc đó”.8 Trong khi đó, theo Đạo luật Nhãn hiệu 1938 của Vương quốc Anh, nhãn hiệu được định nghĩa như sau: “Nhãn hiệu được sử dụng hoặc đề xuất sử dụng liên quan đến hàng hóa với mục đích chỉ ra, hoặc để chỉ ra một kết nối thương mại giữa hàng hóa và một số người có quyền như chủ sở hữu hay người dùng đã đăng ký sử dụng nhãn hiệu, cho dù có hoặc không có bất kỳ dấu hiệu nào về danh tính của người đó.”9 Thông qua việc so sánh, có thể nhận thấy, cách thức tạo lập và 7 Trần Cao Thành (2020), “Quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam, 62(10) 10.C §1127 – Construction and definitions; intent of chapter. 9 Đạo luật Nhãn hiệu 1938 của Vương quốc Anh.
8 nội dung định nghĩa ở hai quốc gia trên là khác nhau. Trong khi, pháp luật Hoa Kỳ đề cập đến cả chức năng phân biệt và chỉ định nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ thì pháp luật Vương quốc Anh chỉ tập trung đến việc chỉ ra nguồn gốc. Những khác biệt đã dẫn đến sự thiếu thống nhất và khó khăn trong việc liên kết bảo hộ nhãn hiệu ở các quốc gia. Do vậy, để giải quyết vấn đề này, Hiệp định TRIPS đã ra đời và đưa ra khái niệm về nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa.10” Hiệp định TRIPS đã đưa ra một định nghĩa “mở” về nhãn hiệu khi chỉ tuyên bố yêu cầu duy nhất là “khả năng phân biệt”.
Điều này cho phép hiểu TRIPS không loại trừ các yếu tố phi truyền thống trong một nhãn hiệu. Tuy nhiên, TRIPS cũng không đặt ra “khuôn khổ pháp lý”, bắt buộc các nước thành viên phải xây dựng quy định tương tự như mình bao gồm việc thừa nhận tất cả các loại NHPTT. Các quốc gia thành viên hoàn toàn có thể quy định nhãn hiệu phải là các dấu hiệu nhìn thấy được, đồng thời loại bỏ một số yếu tố phi truyền thống trong cơ chế bảo hộ nhãn hiệu của mình như yếu tố âm thanh, mùi vị… Ở thời kỳ hậu TRIPS, các khái niệm nhãn hiệu khác cũng lần lượt ra đời với nội dung tương tự nhưng thể hiện sự ghi nhận rõ ràng hơn đối với việc bảo hộ các NHPTT như khái niệm trong Hiệp ước Luật Nhãn hiệu (Trademark Law Treaty, gọi tắt là TLT) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) hay Hiệp ước Singapore về Luật Nhãn hiệu (Singapore Treaty on the Law of Trademarks, gọi tắt là STLT). Tuy phạm vi bảo hộ các dấu hiệu phi truyền thống vẫn chưa thống nhất nhưng thông qua đó, có thể thấy được pháp luật quốc tế đã ngày càng quan tâm hơn đối với việc bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là bảo hộ NHPTT.
Ở khía cạnh pháp luật quốc gia, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số: 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/6/2009, Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019, Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022 (Luật SHTT) cũng đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu với cách thức tiếp cận tương tự. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức khác nhau”11 và sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: “Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các 10 Điều 15.1 Hiệp định TRIPS 1994. 11 Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số: 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/6/2009, Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019, Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022. 9 yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa; Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác12.” Như vậy, về cơ bản, nhãn hiệu được hiểu là những dấu hiệu mang tính đặc thù, đại diện tiêu biểu cho một loại hàng hoá, một loại dịch vụ của cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, định nghĩa về yếu tố chuyển động Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “chuyển động” về cơ bản được hiểu là sự hành động hoặc sự di chuyển hoặc quá trình di chuyển của một đối tượng nào đó. Bên cạnh ý nghĩa chung nhất, “chuyển động” trong các ngành khoa học, các lĩnh vực khác nhau cũng sẽ mang nội hàm khác nhau. Chẳng hạn, trong tâm lý học, “chuyển động” được xem là một khía cạnh của nhận thức và thường được gọi là “nhận thức chuyển động”. Nhận thức chuyển động là nền tảng quan trọng trong việc nghiên cứu về khả năng phát hiện và nhận biết các hình ảnh chuyển động trong tế bào não người13.
Trong khi đó, đối với vật lý học, “chuyển động” lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Cụ thể, trong vật lý, chuyển động là sự thay đổi vị trí trong không gian theo thời gian của chất điểm hay một hệ chất điểm14. Còn đối với giải phẫu học, chuyển động lại được hiểu là chuyển động của cơ thể con người15. Ngày nay, chính nhờ vào sự phát triển của khoa học công nghệ và thương mại, chuyển động không chỉ được tìm hiểu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên hay truyền thông, điện ảnh mà còn được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, cụ thể dưới khía cạnh nhãn hiệu.
Theo đó, yếu tố chuyển động trong nhãn hiệu có thể được hiểu là quá trình chuyển động hoặc di chuyển của một sự vật, hiện tượng hoặc một hoạt ảnh và thông thường được thể hiện dưới các hình thức sau: (i) Hoạt hình/hoạt ảnh máy tính - Hoạt hình/hoạt ảnh máy tính được thiết kế dưới dạng một chuỗi hình ảnh kết hợp với các màu sắc nhằm thể hiện thông điệp mà 12 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số: 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/6/2009, Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019, Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022. Kolers (2013), Aspects of motion perception: International series of monographs in experimental psychology, Elsevier, p. 14 “What is Motion in Physics? – Law and Types of Motion”, https://byjus.com/physics/motion-in-physics/, truy cập ngày 01/04/2023. 15 “Antommical movements”, https://www.com/anatomical-movements-sports-science-degree- physical- education/#:~:text=Anatomical%20movements%20can%20be%20defined,starting%20position%20for%20de scribing%20movement, truy cập ngày 01/04/2023.
10 doanh nghiệp muốn truyền tải. Hình thức này thường được thể hiện trong phim, trên truyền hình hay qua các nền tảng kỹ thuật số khác như các trang web, nền tảng truyền thông xã hội. Ngày nay, hoạt hình máy tính đã trở thành một trong những công cụ quảng cáo, tiếp thị hiệu quả nhất vì khi sử dụng các dấu hiệu này, các doanh nghiệp có thể thể hiện nhãn hiệu của họ thông qua nhiều kênh khác nhau. Bên cạnh đó, đây còn được xem là những dấu hiệu Hình 1.
Nhãn hiệu Toshiba có tính thẩm mỹ với khả năng thu hút và dễ dàng tiếp cận khách hàng. (ii) Quá trình chuyển động của hàng hoá - một dạng chuyển động được tạo ra từ chính sản phẩm. Chẳng hạn, các dấu hiệu chuyển động cửa của Lamborghini16 hoặc chuyển động của Yamaha. Hai dấu hiệu chuyển động này đã được đăng Hình 2.
Nhãn hiệu chuyển động cửa ký theo pháp luật nhãn hiệu Hoa của Lamborghini Kỳ. (iii) Chuyển động vật lý của con người như cử chỉ, điệu bộ. Thông thường, các chuyển động này là các chuyển động tay17. Bởi lẽ, đây là những chuyển động dễ nhận biết và làm theo.
Bên cạnh đó, do các hành động như bắt tay, khoác tay cũng là cách thức tương tác, giao tiếp có từ lâu đời với ý nghĩa Hình 3. Nhãn hiệu chuyển động về sự kết nối, chung tay nên các chuyển của Nokia 16 Dấu hiệu chuyển động là chuyển động của cửa xe được mở. Cụ thể, các cửa di chuyển song song với thân xe nhưng được nâng lên phía trên xe đến vị trí song song. 11 động tay của con người thường được doanh nghiệp khai thác, xây dựng nhãn hiệu nhằm thu hút sự chú ý và tạo lòng tin cho khách hàng.
Điển hình về loại dấu hiệu này, có thể kể đến hình ảnh chuyển động bắt tay mang thông điệp “Kết nối mọi người” của Nokia hay cử chỉ của Salt Bae18. Như đã khẳng định, dấu hiệu chuyển động được xem là một dấu hiệu phi truyền thống, cấu thành nên nhãn hiệu chuyển động. Tuy các doanh nghiệp thường không thể gắn trực tiếp các dấu hiệu này với hàng hoá của họ nhưng thông qua quá trình kinh doanh, các nhãn hiệu này sẽ ngày càng tạo nên sự kết nối “vô hình” với chủ thể kinh doanh và hàng hoá, dịch vụ.