CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM 1. TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU 1. Khái quát nhãn hiệu Nhãn hiệu, (Brands) là một thành phần then chốt không thể tách rời với nền kinh tế hàng hóa. Khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển, thị trường trở nên phong phú, đa dạng các mặt hàng, nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất ra một mặt hàng dẫn đến sự cạnh tranh trong việc định hình vị thế sản phẩm giữa các nhà sản xuất với nhau trong thương trường.
Đối với người tiêu dùng, giữa muôn ngàn các sản phẩm hàng hóa, mà không có nhiều sự khác biệt về hình thức bên ngoài, mặc dù hình thức tương tự nhau, nhưng không phải lúc nào cũng đánh giá đúng chất lượng bên trong sẽ gây rất nhiều khó khăn cho người tiêu chọn lựa đúng sản phẩm mong muốn. Từ đó nảy sinh một đòi hỏi là cần phải có dấu hiệu, tên gọi riêng để phân biệt cho từng loại hàng hóa. Nhãn hiệu ra đời từ đó, chính là để thỏa mãn nhu cầu của nhà sản xuất và người tiêu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ với nhau. Khái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu (Brands) theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.
Điều 15, Hiệp định TRIPS quy định về nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó đều có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.”1 1 Điều 15, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) 8 Tại Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa tại khoản 16, Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu này được coi là nhãn hiệu thông thường, ngoài ra pháp luật còn quy định các loại nhãn hiệu khác như nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng. Cụ thể như sau: Nhãn hiệu tập thể: “là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”2 Nhãn hiệu chứng nhận: “là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.”3 Nhãn hiệu liên kết: “là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.”4 Nhãn hiệu nổi tiếng: “là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.”5 Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 72, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2022 như sau: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa; Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.
2 Khoản 17, Điều 4, Luật Sở hữu Trí Tuệ 2005 3 Khoản 18, Điều 4, Luật Sở hữu Trí Tuệ 2005 4 Khoản 19, Điều 4, Luật Sở hữu Trí Tuệ 2005 5 Khoản 20, Điều 4, Luật Sở hữu Trí Tuệ 2005 9 Nhãn hiệu phải đăng ký và được bảo hộ khi được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu” do Cục Sở hữu Trí tuệ cấp hoặc đăng ký nhãn hiệu theo hệ thống quốc tế, thực hiện theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam có tham gia như thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa (Madrid Agreement), nghị định thư Madrid (Madrid Protocol)…Riêng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký; Được xác định là nhãn hiệu nổi tiếng khi đáp ứng được 8 tiêu chí quy định tại Điều 75 – Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Chức năng của nhãn hiệu 1. Chức năng pháp lý Hiện nay các vấn đề liên quan đến đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam được quy định trong Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn như nghị định số 122/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN và một số văn bản khác. Điều 4 khoản 16 Luật SHTT quy định:“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Quy định này nhấn mạnh đến chức năng và cũng là mục đích của nhãn hiệu, là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Xét về nội dung, có thể thấy đây là một định nghĩa mở, không có sự hạn chế các dấu hiệu cụ thể được sử dụng làm nhãn hiệu. Về mặt pháp lý, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau đều có thể trở thành nhãn hiệu. Đây là chức năng chủ yếu của nhãn hiệu, giúp người tiêu dùng và các cơ quan quản lý Nhà nước phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức chủ sở hữu nhãn hiệu với các loại hàng hóa, dịch vụ cùng loại của cá nhân, tổ chức khác.
Từ những đặc điểm cơ bản, nhận diện nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ mà phục vụ cho hoạt động chống hàng giả, chống các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Nếu nhãn hiệu đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc đăng ký quốc tế theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, thì nhãn hiệu 10 đó được Nhà nước Việt Nam bảo hộ theo quy định pháp luật; Nếu nhãn hiệu chưa đăng ký nhưng có trước thì vẫn có thể được bảo vệ để chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của cá nhân, tổ chức sử dụng sau. Chức năng kinh tế Nhãn hiệu được xem như là một loại tài sản vô hình của cá nhân hoặc tổ chức sở hữu nó, nhãn hiệu hàng hoá đóng một vai trò chiến lược trong kinh doanh, chúng có tác động qua lại với môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi. Trong thời đại kinh tế thị trường bùng nổ như hiện nay, nhãn hiệu hàng hoá đã phát triển thành công cụ để nhận biết sản phẩm giữa các công ty với nhau và là tài sản trí tuệ đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp.
Bởi vì việc sử dụng hiệu quả nhãn hiệu đã trở thành một mục tiêu trong chiến lược marketing sản phẩm của các doanh nghiệp, Ngày nay "trademark" gần như đồng nghĩa với "brand". Ý nghĩa của thuật ngữ “cổ phần nhãn hiệu" là giá trị tài chính của nhãn hiệu hàng hoá mà chúng đóng góp vào giá trị tài sản của một doanh nghiệp. Nhãn hiệu có hai chức năng kinh tế chủ yếu: (1) giúp người tiêu dùng quyết định về sự cân nhắc, lựa chọn của họ đối với những sản phẩm cùng loại trên thị trường; (2) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, để cung cấp hàng hoá và dịch vụ với chất lượng tốt nhất mà người tiêu dùng mong muốn. Nhãn hiệu hàng hoá giúp người tiêu dùng quyết định trong việc chọn lựa sản phẩm dịch vụ mà mình mong muốn có được và trong những tình huống khó như có nhiều sản phẩm dịch vụ có cùng tính năng, chất lượng hàng hóa…nhãn hiệu sẽ phát huy hết chức năng kinh tế và tác dụng của nó khi tác động đến người tiêu dùng trong việc cân nhắc việc chọn loại hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp nào mà nhãn hiệu xuất hiện trong tiềm thức của họ.Ví dụ, khi chọn mua các sản phẩm điện máy dùng trong gia đình hoặc máy tính thì đối với người tiêu dùng nhãn hiệu hàng hoá phải là biểu tượng tin cậy của chất lượng hàng hóa, độ bền của sản phẩm khi sử dụng…và đây chính là chức năng để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ do những doanh nghiệp khác nhau cung cấp dùng chỉ ra đặc điểm, chất lượng của sản phẩm.
Cũng chính từ điều này nhãn hiệu hàng hoá khuyến 11 khích doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng, Việc này thể hiện doanh nghiệp thừa nhận rằng nhãn hiệu chỉ hình thành trong tiềm thức của người tiêu dùng dựa trên kinh nghiệm mà người tiêu dùng thu được sau khi mua và sử dụng sản phẩm. Những thông điệp quảng cáo về chất lượng sản phẩm gắn với nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp, sự trung thành đối với nhãn hiệu cũng chính là thước đo sức mạnh nhãn hiệu trên thương trường của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào việc cải tiến và nâng cao chất lượng là vì uy tín lâu dài của nhãn hiệu phụ thuộc vào sự thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Hai chức năng này bổ sung cho nhau và tăng cường lẫn nhau.
Khi người tiêu dùng lựa chọn một sản phẩm vì lý do chất lượng mà nhãn hiệu của sản phẩm gợi ra và khi doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng để tiếp tục xây dựng danh tiếng cho nhãn hiệu thì kết quả là chất lượng được nâng cao, tạo ra sự gắn bó của người tiêu dùng với nhãn hiệu. Vai trò của pháp luật trong bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu Khi một nhãn hiệu đã được đăng ký, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ được pháp luật trao cho những quyền sở hữu nhất định liên quan đến nhãn hiệu đó.