Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và ơ sở lý thuyết nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền tác giả thông qua xét xử của toà án. Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền tác giả thông qua xét xử tại Toà án nhân dân ở Việt Nam. Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tác giả thông qua xét xử tại Toà án nhân dân ở Việt Nam.
9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cơ chế bảo vệ QTG ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nền tảng là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của quố gi đó. Vì vậy, việ đ nh giá tổng quan tình hình nghiên cứu phải xuất phát từ tiền đề pháp luật về bảo vệ QTG ở nước nào phải luôn được thiết kế phù hợp với hoàn cảnh nướ đó. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tác giả Trong rất nhiều các công trình nghiên cứu lý luận chung về QTG, có thể đề cập đến các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tiêu biểu sau: Công trình nghiên cứu tiếng Việt: Cuốn sách Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng” năm 2006 ủa Tổ chức SHTT Thế giới, NXB Văn hó - Thông tin, Hà Nội do Cụ Sở hữu trí tuệ phát hành với sự cho phép và tài trợ của WIPO [91]; Sách QTG - Đường hội nhập không trải hoa hồng” của tác giả Nguyễn Vân Nam, NXB Trẻ năm 2017 [46]; S h huyên khảo “ uyền sở hữu trí tuệ” ủ t giả Lê Nết, NXB Đại họ Quố gi TP.
Hồ Chí Minh xuất bản năm 2005 [47]; S h “Sự xung đột giữa quyền con người và quyền SHTT – Tiếp cận từ triết lý pháp luật và thực tiễn pháp lý” ủ NXB Đại học quốc gia Hà Nội ph t hành năm 2020 [42]; Sách Khảo luận thứ hai về Chính quyền - Chính quyền dân sự, John Locke (Lê Tuấn Huy dịch và giới thiệu, 2007), NXB. Tri Thức, Hà Nội [50]… Các công trình công bố tại nước ngoài tiêu biểu như: S h “Copyright: Intellectual Property in the Information Age” của Ploman, Edward W. Clark Hamilton do London: Routledge & Kegan Paul ấn hành năm 1980 [107]; Sách “Rethinking copyright: history, theory, language” của Ronan, Deazley, Edward Elg r Publishing năm 2006 [111]; Sách “A Phillosophy of Intelle tul l Property” của Peter Drahos (ANU Press 2016) [108]; Sách The Economic Structure of Intellectual Property, của William M. Posner, Belknap Press of Harvard University Press, 2003 [114]; Sách A Philosophy of Intellectual Property, của Peter Drahos, Dartmouth Publishing, Aldershot, 1996 [108, tr.
10 Các công trình kể trên đã làm rõ lĩnh vực bảo hộ của QTG chính là những sản phẩm sáng tạo chủ yếu thuộ lĩnh vự văn hó , liên qu n đến truyền thông đại húng. “Luật bản quyền đề cập tới những hình thức sáng tạo đặc biệt, chủ yếu liên quan tới truyền thông đại chúng”; QTG “liên quan tới hầu hết các hình thức và phương ph p truyền đạt tới cộng đồng, không chỉ đối với việc xuất bản mà còn cả lĩnh vự như ph t th nh, truyền hình, chiếu phim tại rạp… và thậm chí cả hệ thống sử dụng m y tính để lưu trữ và truy cập thông tin” [91, tr. Khái niệm QTG có thể tiếp cận dưới nhiều gó độ. S h huyên khảo “ uyền sở hữu trí tuệ” ủ t giả Lê Nết, đư r kh i niệm pháp lý về QTG: “Là tổng hợp các quy phạm quy định về bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học” [47, tr.
Tác giả chỉ ra các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật về QTG bao gồm: chủ thể là tác giả, chủ sở hữu QTG; khách thể là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; nội dung là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG [47, tr. Công trình ũng hỉ r h i đặ trưng ủ ơ hế bảo hộ QTG, đó là: (i) QTG chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo; và (ii) tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt hước tác phẩm khác [91, tr. “Luật bản quyền chỉ bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng chứ không bảo hộ hính ý tưởng đó. S ng tạo được bảo hộ theo luật bản quyền là sự sáng tạo trong việc lựa chọn và sắp xếp các từ ngữ, nốt nhạc, màu sắc và hình khối.
Vì vậy, những ý tưởng, khám phá, thông tin, quy trình, giải ph p… mặc dù có thể ó “tính mới” nhưng không phải là đối tượng bảo hộ theo luật bản quyền. Pháp luật QTG không yêu cầu ý tưởng thể hiện trong tác phẩm phải mới, chỉ cần đ p ứng điều kiện hình thức thể hiện phải là sự sáng tạo nguyên gốc [91, tr. QTG ũng không đặt ra bất kỳ tiêu chuẩn bảo hộ về nội dung, hình thức, chất lượng, giá trị nghệ thuật, ngôn ngữ, mụ đí h. “Luật bản quyền bảo hộ chủ sở hữu các quyền đối với tác phẩm nghệ thuật nhằm chống lại những người lấy và sử dụng hình thức của tác phẩm nguyên gố đã được tác giả thể hiện” [91, tr.
Đồng thời, tác giả ũng hỉ ra hình thức thể hiện của tác phẩm: “Hầu hết các tác phẩm chỉ tồn tại khi được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định. Tuy vậy, ũng ó những tác 11 phẩm lại tồn tại mà không thể hiện dưới dạng vật chất nào” [91, tr. Tác giả Lê Nết ũng khẳng định “QTG được bảo hộ theo những nguyên tắc chung của luật dân sự, ó nghĩ là, Nhà nước không bảo hộ những tác phẩm có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, đi ngược lại lợi í h Nhà nước, lợi ích công cộng”. Các nghiên cứu đều x định đối tượng được bảo hộ QTG bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa họ dưới bất kỳ hình thức và cách thức thể hiện nào; đồng thời, chỉ rõ điều kiện để tác phẩm được bảo hộ “phải là sáng tạo nguyên gốc của tác giả”.
Một số công trình nghiên cứu như s h: “Sự xung đột giữa quyền con người và quyền SHTT – Tiếp cận từ triết lý pháp luật và thực tiễn pháp lý” ủ NXB Đại học quốc gia Hà Nội ph t hành năm 2020 [42]; Sách Khảo luận thứ hai về Chính quyền - Chính quyền dân sự, John Locke (Lê Tuấn Huy dịch và giới thiệu, 2007), NXB. Tri Thức [50]; Sách “Rethinking copyright: history, theory, language” của Ronan, Deazley, Edward Elgar Publishing năm 2006 [111]; Sách “A Phillosophy of Intelle tul l Property” ủa Peter Drahos [108] đã phân tí h lý thuyết nền tảng của bảo hộ quyền SHTT như: học thuyết tự do sáng tạo, học thuyết pháp luật tư nhiên, học thuyết cân bằng lợi í h… Một số công trình nghiên cứu đã đề cập kh i lược về lịch sử và các lý thuyết trong lịch sử về QTG như: Lý thuyết quyền sở hữu của NXB, thuyết quyền SHTT (sở hữu tinh thần), thuyết quyền nhân thân, thuyết quyền tài sản phi vật chất (thuyết nhị nguyên), thuyết nhất nguyên, thuyết chủ nhân tác phẩm [46, tr. Đây là những lý thuyết ơ bản đặt nền móng cho việc bảo hộ QTG. Ý nghĩ kh h thể của luật QTG là quy định những điều kiện để bảo vệ và khai thác, sử dụng những thành quả sáng tạo tinh thần.
Thực chất luật QTG không trực tiếp bảo vệ hoạt động sáng tạo mà chỉ bảo hộ kết quả của hoạt động này. Ý nghĩ hủ thể của luật QTG bảo vệ quyền củ người sáng tạo ra tác phẩm đối với tác phẩm của mình [46, tr. Vai trò của bảo hộ QTG “là một công cụ hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hó quốc gia”; việc bảo hộ QTG “không chỉ cho những người sáng tạo các tác phẩm sáng tạo trí tuệ mà còn cho cả quyền lợi của những người hỗ trợ khác, giúp phổ biến các tác phẩm đó” [46, tr. Tác giả Nguyễn Vân N m đư r qu n điểm: QTG là một độc quyền thống nhất giữa quyền sử dụng khai thác tác phẩm về mặt kinh tế để bảo đảm quyền lợi vật chất (quyền tài sản) và quyền 12 nhân thân bảo vệ quyền lợi về mặt tinh thần ó liên qu n đến tác phẩm của tác giả (Thuyết nhất nguyên) [46, tr.
Tác giả ũng hỉ r b đặc tính pháp lý của QTG, đó là - Tính tuyệt đối: QTG là quyền có tính tuyệt đối, có hiệu lự đối với bất cứ ai, đều phải tôn trọng. Việc hạn chế hay giới hạn QTG chỉ được theo luật định; - Tính chủ động: Tính chủ động thể hiện ở tính “độc quyền”, nghĩ là hỉ có tác giả mới có quyền ho phép người khác sử dụng, khai thác tác phẩm; - Tính bảo vệ: Tác giả có quyền ngăn ấm người khác sử dụng tác phẩm, yêu cầu ơ qu n ó thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QTG. C ông trình này ũng so s nh h i hệ thống pháp luật về QTG tồn tại hiện nay trên thế giới, đó là hệ thống Anh-Mỹ (copyright) và hệ thống QTG của châu Âu lụ địa. Theo các tác giả đ nh gi , bản chất của hệ thống Luật QTG của châu Âu lục địa và hệ thống QTG của Anh-Mỹ là giống nhau về khái niệm, định nghĩ , tiêu chuẩn… Sự khác nhau giữa hai hệ thống chủ yếu là sự ưu tiên mục tiêu bảo vệ.
Nếu ở Luật QTG châu Âu lụ địa, lợi ích kinh tế của tác giả và quan hệ của tác giả với tác phẩm của mình là trọng tâm bảo vệ, thì ở hệ thống Copyright lại là quyền củ người có thể khai thác tác phẩm [46, tr. Ở nước theo truyền thống pháp lý Latinh, tập trung vào QTG, theo đó hỉ riêng tác giả mới đượ hưởng sự bảo hộ QTG cho sự sáng tạo của mình. Còn các quốc gia theo truyền thống pháp lý Anglo-Xacson lại nghiêng về bảo hộ cho những người truyền bá tác phẩm [61, tr.