Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Bình (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018; người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Bích Thảo) nghiên cứu về "Xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam". Theo phân tích của tác giả, đối với các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ, nhãn hiệu cấu thành một loại tài sản vô hình có giá trị kinh tế lớn nhưng đồng thời là đối tượng sở hữu công nghiệp dễ bị xâm phạm nhất trên thị trường. Việc ghi nhận và xác lập quyền bảo hộ chỉ phát huy ý nghĩa thực tế khi đi kèm hệ thống chế tài và thủ tục xử lý nghiêm minh, chính xác, hiệu quả đối với các hành vi vi phạm.
Ở thời điểm thực hiện đề tài, cơ chế thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật quốc tế và quốc nội, bao gồm: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883, Hiệp định TRIPS, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000, Hiệp định CPTPP, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP và Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN. Tuy nhiên, hoạt động áp dụng pháp luật trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, hạn chế và chưa đạt mức độ tương thích cần thiết với các cam kết thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định CPTPP.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm: làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nội dung cụ thể:
- Làm rõ khái niệm, bản chất, ý nghĩa của hoạt động xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; các biện pháp xử lý; pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và các quy định liên quan trong Hiệp định CPTPP;
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng như thực tiễn áp dụng;
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao năng lực thực thi xử lý vi phạm trong điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của công trình bao gồm: các vấn đề lý luận về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành cùng thực tiễn áp dụng các biện pháp dân sự, hình sự, hành chính; quy định pháp luật của một số quốc gia đại diện (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Vương quốc Anh) và các cam kết trong Hiệp định CPTPP. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các biện pháp chế tài theo luật định (hành chính, dân sự, hình sự) đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam, đặt trong mối liên hệ so sánh với các chuẩn mực quốc tế.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng lý luận pháp lý chuyên ngành về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng. Tác giả vận dụng các khái niệm và nguyên tắc pháp lý cốt lõi từ Từ điển Luật học Black's Law Dictionary (ấn bản thứ 9), quy định tại Điều 15 Hiệp định TRIPS, Điều 6 Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000, Điều 18.18 Hiệp định CPTPP và Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009). Bản chất của nhãn hiệu được xác định qua hai thuộc tính pháp lý nền tảng: là dấu hiệu nhìn thấy được (theo luật định Việt Nam hiện hành) và là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau.
Về cơ chế xác lập quyền, khóa luận phân tích đối chiếu hai nguyên tắc cơ bản trong luật so sánh: nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first-to-file) và nguyên tắc sử dụng đầu tiên (first-to-use), cùng với quy chế bảo hộ tự động đối với nhãn hiệu nổi tiếng và nguyên tắc hưởng quyền ưu tiên theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid. Về giới hạn quyền, khóa luận làm rõ học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ (exhaustion of rights) gắn với hiện tượng nhập khẩu song song (parallel import), cùng các trường hợp ngoại lệ sử dụng nhãn hiệu phi thương mại hoặc sử dụng trên phương tiện vận tải quá cảnh.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp pháp lý: mổ xẻ nội dung các điều luật trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015/2017) để làm rõ cấu thành vi phạm và thẩm quyền tài phán;
- Phương pháp luật học so sánh: khảo sát mô hình lập pháp và tư pháp của Hoa Kỳ (Đạo luật Lanham), Nhật Bản (Luật Thuế quan, trọng tài thương mại), Trung Quốc (thẩm quyền cơ quan hành chính song song tòa án) và Vương quốc Anh (các chế định khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng);
- Phương pháp nghiên cứu tình huống và phân tích thực tiễn: xem xét các trường hợp tranh chấp thực tế (vụ việc nhãn hiệu Panadol đối chiếu với Paracetamol, Paradol, Fanadol, Andol; nhãn hiệu Cà phê Trung Nguyên; nhãn hiệu May Việt Tiến; bóng đèn SUMO; nước khoáng Lavie/Laviee; xe máy Honda) để làm rõ ranh giới giữa trùng lặp, tương tự gây nhầm lẫn và làm mờ nhãn hiệu (dilution).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các điều ước quốc tế đa phương và song phương, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, báo cáo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ, số liệu thực thi của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, các công trình nghiên cứu chuyên khảo và luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật học được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Chương 1 khái quát hóa toàn diện các thuộc tính pháp lý của nhãn hiệu, cơ chế bảo hộ và hệ thống các biện pháp chế tài. Theo hình thức dấu hiệu, nhãn hiệu được phân chia thành nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình và nhãn hiệu kết hợp. Theo tính chất và chức năng pháp lý, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ phân loại thành: nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng. Khóa luận phân tích nội dung quyền sở hữu công nghiệp gồm ba quyền năng: quyền độc quyền sử dụng, quyền ngăn cấm người khác sử dụng trong phạm vi bảo hộ, và quyền định đoạt (chuyển giao quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng, góp vốn, để lại thừa kế cho một chủ thể nhất định).
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được định hình qua việc sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn bảo hộ mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu (quy định tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ), thể hiện ở các dạng:
- Sử dụng dấu hiệu trùng cho hàng hóa, dịch vụ trùng;
- Sử dụng dấu hiệu trùng cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan;
- Sử dụng dấu hiệu tương tự cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự, có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc;
- Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự (kể cả dịch nghĩa, phiên âm) với nhãn hiệu nổi tiếng cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào nếu có nguy cơ làm mờ hoặc gây ấn tượng sai lệch về nguồn gốc.
Chương này cũng phân tích bản chất của ba nhóm biện pháp xử lý:
- Biện pháp hành chính: do cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với các vi phạm xâm phạm lợi ích công, người tiêu dùng hoặc cạnh tranh lành mạnh; ưu điểm là quy trình giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Biện pháp dân sự: do Tòa án áp dụng theo yêu cầu khởi kiện của chủ thể quyền; đảm bảo địa vị pháp lý bình đẳng, tính khách quan, tranh tụng bình đẳng và là cơ chế duy nhất cho phép phục hồi lợi ích tư thông qua bồi thường thiệt hại;
- Biện pháp hình sự: áp dụng đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến hàng giả, buôn lậu qua biên giới, mang tính răn đe và trừng phạt nghiêm khắc nhất.
Khảo cứu pháp luật quốc tế cho thấy:
- Pháp luật Hoa Kỳ chú trọng thủ tục khởi kiện dân sự theo Đạo luật Lanham năm 1946 (sửa đổi 1984), cho phép doanh nghiệp tịch thu hàng giả, cấm bán trên Internet và đòi bồi thường thiệt hại bằng tiền; hình sự hóa hành vi làm giả tại hai phần ba số bang;
- Pháp luật Nhật Bản đa dạng hóa kênh giải quyết qua khuyến cáo, hòa giải tại Trung tâm hòa giải SHCN Nhật Bản, Hội đồng trọng tài thương mại hoặc khởi kiện tại tòa án;
- Pháp luật Trung Quốc duy trì cơ chế song song giữa Tòa án và các cơ quan hành chính; quy định mức bồi thường theo lợi nhuận thu được hoặc thiệt hại thực tế, trường hợp không xác định được thì mức bồi thường theo quyết định của tòa án không vượt quá 500.000 Nhân dân tệ;
- Pháp luật Vương quốc Anh thiết lập hệ thống tòa án chuyên trách có quyền ban hành các lệnh khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng mà không cần báo trước cho bên vi phạm (lệnh Mareva phong tỏa tài sản, lệnh Anton Piller cho phép khám xét cơ sở và thu giữ tài liệu chứng cứ);
- Hiệp định CPTPP đặt ra các chuẩn mực khắt khe tại Điều 18.18 (công nhận nhãn hiệu âm thanh và nỗ lực bảo hộ nhãn hiệu mùi hương), Điều 18.73 (bắt buộc công khai bằng văn bản các bản án và quyết định hành chính), và Điều 18.74 (mở rộng thẩm quyền bồi thường thiệt hại cho cơ quan tư pháp vượt ra ngoài phạm vi yêu cầu của đương sự, quy định khoản bồi thường phải đủ để ngăn chặn vi phạm tái diễn).
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và thực tiễn áp dụng
Chương 2 rà soát chi tiết thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh ba cơ chế tài phán:
-
Cơ chế dân sự: Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ, Tòa án có quyền tuyên các biện pháp: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại và buộc tiêu hủy/phân phối phi thương mại tang vật, phương tiện sản xuất. Thẩm quyền xét xử thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện đối với tranh chấp phi lợi nhuận (Khoản 4 Điều 26 BLTTDS 2015) và thuộc Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với tranh chấp có mục đích lợi nhuận giữa các chủ thể (Khoản 2 Điều 30 BLTTDS 2015). Thiệt hại vật chất được xác định qua 3 phương pháp: (i) thiệt hại thực tế cộng lợi nhuận của bên vi phạm; (ii) giả định giá chuyển giao quyền sử dụng; (iii) ấn định theo mức độ thiệt hại tối đa không quá 500 triệu đồng. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ không quy định bồi thường tổn thất tinh thần cho chủ sở hữu nhãn hiệu (vốn chịu thiệt hại nghiêm trọng về uy tín thương mại). Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 206, 207 Luật Sở hữu trí tuệ và BLTTDS 2015 chỉ được thực hiện khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, dẫn đến nguy cơ người vi phạm tẩu tán tang vật trước khi tòa thụ lý vụ án.
-
Cơ chế hình sự: Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân và pháp nhân thương mại trong lĩnh vực sản xuất buôn bán hàng giả, buôn lậu qua biên giới. Khóa luận tổng hợp các khung chế tài áp dụng theo Bảng 2.1 và Bảng 2.2:
| Tội danh (BLHS 2015/2017) |
Hình phạt nhẹ nhất (Cá nhân) |
Hình phạt nặng nhất (Cá nhân) |
Hình phạt bổ sung (Cá nhân) |
| Tội buôn lậu |
Phạt tiền 50 triệu đồng; Phạt tù 6 tháng |
Phạt tiền 5 tỷ đồng; Phạt tù 15 năm |
Cấm hành nghề 1–5 năm; Tịch thu tài sản; Cấm hoạt động đến 5 năm |
| Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới |
Phạt tiền 20 triệu đồng; Phạt tù 3 tháng; Cải tạo không giam giữ đến 2 năm |
Phạt tiền 3 tỷ đồng; Phạt tù 10 năm |
Cấm hành nghề, hoạt động đến 5 năm; Phạt tiền đến 50 triệu đồng |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả |
Phạt tiền 100 triệu đồng; Phạt tù 1 năm |
Phạt tiền 1 tỷ đồng; Phạt tù 15 năm |
Cấm hành nghề đến 5 năm; Phạt tiền đến 50 triệu đồng; Tịch thu tài sản |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, chất phụ gia thực phẩm |
Phạt tù 5 năm |
Phạt tù chung thân |
Phạt tiền đến 100 triệu đồng; Cấm hành nghề đến 5 năm; Tịch thu tài sản |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi |
Phạt tiền 100 triệu đồng; Phạt tù 1 năm |
Phạt tù 20 năm |
Phạt tiền đến 100 triệu đồng; Cấm hành nghề đến 5 năm; Tịch thu tài sản |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh |
Phạt tù 2 năm |
Phạt tù chung thân; Tử hình |
Phạt tiền đến 100 triệu đồng; Cấm hành nghề đến 5 năm; Tịch thu tài sản |
Đối với chủ thể là pháp nhân thương mại, chế tài xử lý hình sự được thiết lập với mức độ nghiêm khắc cao:
| Tội danh (BLHS 2015/2017) |
Hình phạt nhẹ nhất (Pháp nhân) |
Hình phạt nặng nhất (Pháp nhân) |
Hình phạt bổ sung (Pháp nhân) |
| Tội buôn lậu |
Phạt tiền 300 triệu đồng |
Phạt tiền 15 tỷ đồng; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn |
Cấm hoạt động trong một số lĩnh vực; Cấm huy động vốn và phạt tiền đến 300 triệu đồng |
| Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới |
Phạt tiền 200 triệu đồng |
Phạt tiền 5 tỷ đồng; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn |
Cấm hoạt động trong một số lĩnh vực; Cấm huy động vốn đến 3 năm và phạt tiền đến 200 triệu đồng |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả |
Phạt tiền 1 tỷ đồng |
Phạt tiền 9 tỷ đồng; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn |
Phạt tiền 200 triệu đồng; Cấm hoạt động trong một số lĩnh vực; Cấm huy động vốn đến 3 năm |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, chất phụ gia thực phẩm |
Phạt tiền 1 tỷ đồng |
Phạt tiền 18 tỷ đồng; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn |
Phạt tiền 300 triệu đồng; Cấm hoạt động trong một số lĩnh vực; Cấm huy động vốn đến 3 năm |
| Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi |
Phạt tiền 1 tỷ đồng |
Phạt tiền 15 tỷ đồng; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn |
Phạt tiền đến 300 triệu đồng; Cấm hoạt động trong một số lĩnh vực; Cấm huy động vốn đến 3 năm |
- Về thực tiễn áp dụng và hạn chế: Văn bản ghi nhận tình trạng bất cập kéo dài khi phần lớn các vụ việc xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam được giải quyết qua con đường hành chính thay vì khởi kiện dân sự tại tòa án. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc doanh nghiệp vừa và nhỏ e ngại chi phí tố tụng cao, thủ tục kéo dài, khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế, cùng sự thiếu vắng cơ chế ban hành lệnh khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gồm hai phương diện:
- Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ nhằm nội luật hóa các cam kết của Hiệp định CPTPP, mở rộng diện đối tượng bảo hộ sang các dấu hiệu phi truyền thống (âm thanh, mùi hương); bổ sung cơ chế bồi thường thiệt hại mang tính chất răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai thay vì chỉ áp dụng nguyên tắc bồi thường "toàn bộ và kịp thời" theo Điều 585 BLDS 2015; sửa đổi quy định tại BLTTDS để cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo mô hình của Anh; bổ sung quyền yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần (uy tín, danh tiếng thương mại) cho chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Tổ chức thực hiện pháp luật: Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Thanh tra chuyên ngành, Cục Quản lý thị trường, Hải quan và cơ quan Công an; minh bạch hóa và công khai các phán quyết tư pháp, quyết định xử lý hành chính theo yêu cầu của Điều 18.73 CPTPP; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tôn trọng tài sản trí tuệ của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể sau:
- Khái quát hóa và hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nhãn hiệu và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, có sự đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế (TRIPS, Paris, CPTPP).
- Làm rõ cấu trúc phân loại nhãn hiệu thực định tại Việt Nam (3 loại theo hình thức gồm nhãn hiệu chữ, hình, kết hợp; 5 loại theo chức năng gồm tập thể, chứng nhận, liên kết, nổi tiếng, thông thường) và cơ chế xác lập quyền dựa trên nguyên tắc nộp đơn đầu tiên kết hợp nguyên tắc tự động đối với nhãn hiệu nổi tiếng.
- Hệ thống hóa bảng khung hình phạt chi tiết đối với 6 nhóm tội danh xâm phạm nhãn hiệu và sản xuất hàng giả áp dụng cho cả cá nhân (với mức cao nhất là tù chung thân và tử hình đối với tội sản xuất thuốc chữa bệnh giả) và pháp nhân thương mại (với mức phạt tiền lên tới 18 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn) theo BLHS 2015/2017.
- Chỉ ra các xung đột pháp lý điển hình: giữa quy định bồi thường ngoài hợp đồng theo nguyên tắc bù đắp thực tế của Điều 585 BLDS 2015 với yêu cầu bồi thường mang tính trừng phạt, phòng ngừa tương lai của Điều 18.74 CPTPP; giữa yêu cầu khởi kiện trước mới được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS 2015 với tính chất khẩn cấp thực tế trong xử lý xâm phạm nhãn hiệu.
- Đóng góp so với các công trình đi trước (như luận văn của Nguyễn Thị Pha 2010 hay Nguyễn Thị Lan Anh 2012 vốn chỉ tập trung vào khía cạnh dân sự đơn lẻ hoặc luật nước ngoài) bằng cách tiếp cận tổng thể cả ba nhánh chế tài: dân sự, hình sự và hành chính, đồng thời trực tiếp đánh giá tác động thực thi của Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được hoàn thành vào năm 2018, thời điểm Hiệp định CPTPP mới được ký kết và chuẩn bị có hiệu lực đối với Việt Nam, do đó các phân tích về CPTPP trong công trình chủ yếu dừng lại ở mức độ nghiên cứu quy định văn bản và dự báo tác động lập pháp mà chưa thể đánh giá thực tiễn thi hành án sau khi hiệp định chính thức vận hành.
Về hướng nghiên cứu tiếp, công trình mở ra nhu cầu theo dõi quá trình nội luật hóa cụ thể của Việt Nam đối với các loại nhãn hiệu phi truyền thống (nhãn hiệu âm thanh, mùi hương), khảo sát thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong các vụ án xâm phạm sở hữu trí tuệ sau khi BLHS 2015 đi vào áp dụng, và nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế thành lập Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên đại học, học viên cao học ngành Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Kinh tế và Pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
Nội dung nghiên cứu đặc biệt hữu ích cho những người làm đề tài nghiên cứu liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế bảo hộ nhãn hiệu và tương thích pháp luật trong hội nhập kinh tế quốc tế. Các phần có giá trị tham khảo cao gồm:
- Khung so sánh lập pháp quốc tế giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Vương quốc Anh và cam kết CPTPP tại Chương 1;
- Hệ thống bảng tổng hợp khung hình phạt cá nhân và pháp nhân đối với các tội danh hàng giả, buôn lậu tại Chương 2;
- Phân tích ranh giới và cách tính toán thiệt hại vật chất (3 phương thức) cùng hạn chế về bồi thường tổn thất tinh thần cho nhãn hiệu trong tố tụng dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 khác biệt thế nào so với cam kết trong Hiệp định CPTPP?
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009), nhãn hiệu bắt buộc phải là "dấu hiệu nhìn thấy được" dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ. Trong khi đó, Điều 18.18 Hiệp định CPTPP quy định các thành viên không được coi việc nhìn thấy bằng mắt là điều kiện bắt buộc, đồng thời nghiêm cấm từ chối đăng ký đối với nhãn hiệu âm thanh và yêu cầu nỗ lực bảo hộ nhãn hiệu mùi hương.
2. Pháp luật Việt Nam quy định những phương thức nào để xác định mức bồi thường thiệt hại vật chất do xâm phạm nhãn hiệu trong vụ án dân sự?
Văn bản nêu rõ 3 phương thức tính thiệt hại vật chất: thứ nhất, tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được từ hành vi xâm phạm; thứ hai, tính theo giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp giả định; thứ ba, nếu không thể xác định được theo hai cách trên thì Tòa án ấn định mức bồi thường tùy thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá 500 triệu đồng.
3. Bất cập lớn nhất trong quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Việt Nam so với kinh nghiệm của Vương quốc Anh là gì?
Theo Điều 206 Luật Sở hữu trí tuệ và BLTTDS 2015, chủ thể quyền chỉ có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời "khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện". Bất cập này khiến chủ sở hữu gặp rủi ro bị tẩu tán hàng hóa xâm phạm trong thời gian chuẩn bị hồ sơ kiện. Ngược lại, pháp luật Anh cho phép tòa án ban hành lệnh phong tỏa tài sản (lệnh Mareva) và lệnh khám xét thu giữ chứng cứ (lệnh Anton Piller) ngay trong giai đoạn tiền tố tụng mà không cần thông báo trước cho bên vi phạm.
4. Khung bồi thường thiệt hại định mức của pháp luật Trung Quốc được quy định như thế nào khi không xác định được thiệt hại thực tế?
Theo pháp luật Trung Quốc được trích dẫn trong khóa luận, trong trường hợp cơ quan tài phán không thể xác định được chính xác số lợi nhuận bất chính mà bên vi phạm thu được hoặc mức thiệt hại thực tế của người bị vi phạm, Tòa án có thẩm quyền ra phán quyết mức bồi thường thiệt hại không vượt quá 500.000 Nhân dân tệ.
5. Khung hình phạt cao nhất áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội liên quan đến hàng giả mạo nhãn hiệu theo BLHS 2015 (sửa đổi 2017) là gì?
Theo thống kê tại Bảng 2.1 và Bảng 2.2 của khóa luận, đối với cá nhân, mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh. Đối với pháp nhân thương mại, mức phạt tiền cao nhất lên đến 18 tỷ đồng (đối với tội sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm) cùng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Bình là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ chế pháp lý xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam tại thời điểm năm 2018. Tác giả đã phân tích toàn diện ba biện pháp chế tài dân sự, hành chính, hình sự, đồng thời chỉ ra sự mất cân đối thực tế khi các chủ thể chủ yếu phụ thuộc vào biện pháp hành chính thay vì khởi kiện tại tòa án. Những phân tích so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh và các tiêu chuẩn cao của Hiệp định CPTPP cung cấp các luận cứ xác đáng cho yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ và tố tụng tại Việt Nam.