Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1.Khái quát về nhãn hiệu 1.Khái niệm về nhãn hiệu Ngay từ thời kỳ trung cổ, cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại, việc sử dụng nhãn hiệu để phân biệt hàng hóa, sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất đã có mầm mống của sự phát triển. Đến thế kỷ XIX với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, ngày một nhiều hơn các sản phẩm hữu ích đã được tạo ra phục vụ nhu cầu của con người. Điều này kéo theo sự phát triển của lưu thông hàng hóa, sự phong phú của các sản phẩm và sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất làm nảy sinh yêu cầu cần có những dấu hiệu riêng để nhận biết hàng hóa, dịch vụ của từng đơn vị sản xuất khác nhau nhưng cùng một chủng loại hoặc có tính chất tương tự bằng cách nhà sản xuất đã ghi nhãn mác, tên gọi của sản phẩm, phân biệt chúng với sản phẩm của doanh nghiệp khác.1 Trên bình diện quốc tế, có nhiều quốc gia sớm quan tâm tới nhãn hiệu, cũng như sớm hình thành, phát triển pháp luật về nhãn hiệu. Nhãn hiệu cổ xưa nhất trên thế giới còn được sử dụng cho tới ngày nay là nhãn hiệu “Weihenstephaner” cho sản phẩm bia xuất hiện năm 1040.
Một thời gian không quá dài sau đó người ta thấy một sự phát triển liên tục của pháp luật quốc gia và quốc tế về nhãn hiệu trong thực tế.2 1 “Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự”, TS Đinh Văn Thanh, LG Đinh Thị Hằng, NXB Công an Nhân dân, năm 2004, Tr13, 14. 2 Cụ thể, vào năm 1266 đạo luật đầu tiên trên thế giới liên quan đến nhãn hiệu ra đời tại Anh, (“Bakers Marking Law”). Ở Mỹ, năm 1971 Thomas Jefferson đề xuất xây dựng luật nhãn hiệu dựa trên các quy định về thương mại của Hiến pháp Mỹ. Luật Nhãn hiệu ban hành tại Pháp năm 1857, tại Anh năm1862, tại Đức Năm 1874.
Năm 1878 Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế - International Trademark Association (INTA) được thành lập. Công ước Paris về Sở hữu Công nghiệp là thỏa thuận quốc tế đầu tiên liên quan đến nhãn hiệu được ký kết năm 1983. Cho tới năm 1994 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (sau đây gọi là Hiệp định TRIPs) của WTO được xác lập cùng với Hiệp định thành lập WTO. 4 Nhãn hiệu (trademark) là một yếu tố mang tính đặc trưng thể hiện sự gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất, đóng vai trò trung tâm trong luật nhãn hiệu. Nhiều sản phẩm hàng hóa đã được người tiêu dùng đồng nhất với tên nhãn hiệu của chúng, chẳng hạn như nước giải khát Coca Cola, cà phê Nestcafé, quần Jean Levi’s. Những sản phẩm này thực sự đã trở nên nổi tiếng và được biết đến một cách rộng rãi khắp nơi trên thế giới.3 Tại Việt Nam, bảo hộ nhãn hiệu được đề cập đến muộn hơn. Giấy chứng nhận Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 01 được Cục Sáng chế (nay là Cục Sở hữu trí tuệ) cấp cho Nhãn hiệu “DC & Hình” cho sản phẩm “Động cơ điện ba pha, quạt trần” của Nhà máy chế tạo Điện cơ vào ngày 29/06/1984.
Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, cùng với sự ra đời của Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và Luật SHTT năm 2005 nhãn hiệu ngày càng được biết đến nhiều hơn và được sử dụng rộng rãi hơn. Ví dụ, nhãn hiệu có thể được gọi thay cho một nhóm sản phẩm như trường hợp người tiêu dùng gọi OMO thay cho một gói bột giặt; gọi Coca Cola thay cho một hộp nước giải khát; gọi bánh Kinh Đô thay cho một gói bánh… Trong thực tế ở Việt Nam, nhãn hiệu có thể được hiểu đơn giản gắn với tên của một sản phẩm. Về mặt pháp lý, Luật SHTT định nghĩa “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”4 Khái niệm này phù hợp với quy định tại Điều 15.1 Hiệp định TRIPs, theo đó bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác, đều có thể là nhãn hiệu. Điều khoản này của TRIPs còn quy định thêm rằng các dấu hiệu cụ thể bao gồm các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa.
3 “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Châu âu và Hòa Kỳ”, ThS. Phan Ngọc Tâm, Tạp chí khoa học pháp lý số 04/2006.16, Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Luật số 36 /2009/QH12 (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ). Phân loại nhãn hiệu Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất to lớn không chỉ trong lý luận mà còn trong cả thực tiễn. Theo mỗi tiêu chí lại có cách phân loại nhãn hiệu khác nhau.
Và để phân loại nhãn hiệu ta có thể dựa trên một số tiêu chí sau: * Dựa vào đối tượng mang nhãn hiệu có thể chia nhãn hiệu thành 2 loại là nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. - Nhãn hiệu hàng hóa (Trademarks) là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau. Thông thường, nhãn hiệu hàng hóa chỉ dùng cho hàng hóa là sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hoặc sản phẩm do con người sản xuất, chế tạo ra. Điều này không có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa phải thông tin cho người tiêu dùng về người thực sự đã sản xuất ra sản phẩm hoặc thậm chí người bán sản phẩm.
Nhãn hiệu hàng hóa tùy từng loại hình hàng hóa mà nó có thể được gắn trực tiếp lên hàng hóa hoặc các bao bì, sản phẩm hàng hóa giúp người tiêu dùng có thể nhận biết để phân biệt hàng hóa này với hàng hóa của cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Ví dụ: Nhãn hiệu Dr.Thanh cho sản phẩm nước uống, Nhãn hiệu Pepsi cho sản phẩm nước uống Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, người tiêu dùng đang đứng trước sự bùng nổ của các loại nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Do vậy, để người tiêu dùng 6 chọn đúng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp mình thì việc xây dựng, đăng ký và bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa cho doanh nghiệp mình có ý nghĩa vô cùng quan trọng. - Nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu để phân biệt dịch vụ cho các chủ thể kinh doanh khác nhau cung cấp.
Sản phẩm gắn nhãn hiệu dịch vụ là những sản phẩm vô hình do một người hay một tổ chức doanh nghiệp đứng ra thực hiện nhằm phục vụ nhu cầu của mọi người trong xã hội. Nhãn hiệu dịch vụ thường gắn trên các bảng hiệu dịch vụ để người có nhu cầu hưởng thụ dịch vụ đó có thể nhận thấy dễ dàng. Tuy nhiên, nhãn hiệu dịch vụ ở đây phải là những hoạt động mua bán hàng hóa mà nó chỉ là một hoạt động góp phần hình thành nên dịch vụ của hàng hóa mua bán. Ngày nay, trong điều kiện đời sống kinh tế vật chất ngày càng được nâng cao thì các loại hình dịch vụ ngày càng trở nên phong phú (ví dụ các dịch vụ pháp lý, bảo hiểm, thông tin liên lạc.) tăng cả về số lượng, chất lượng và mức độ cạnh tranh giữa các loại dịch vụ cũng trở nên gay gắt.
Ví dụ: cũng là dịch vụ vận chuyển hàng không nhưng thông qua nhãn hiệu người sử dụng biết và phân biệt được dịch vụ của Vietnam Airlines và Jetstar Pacific Airline * Dựa vào dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu thì có ba loại nhãn hiệu: - Nhãn hiệu chữ: Đây là loại nhãn hiệu được sử dụng khá phổ biến, bao gồm các chữ cái, có thể kèm theo cả chữ số; từ có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa; có thể là tên gọi, từ tự đặt.; Ngữ có thể là một cụm từ hoặc một khẩu hiệu trong kinh doanh.Dấu hiệu chữ được sử dụng làm nhãn hiệu khi chữ cái, chữ số, chữ không 7 thuộc các ngôn ngữ thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu. Ví dụ: NIKE, VITAL,. - Nhãn hiệu hình: bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối (hình không gian ba chiều). Tuy nhiên, những dấu hiệu hình cũng chỉ được đăng ký làm nhãn hiệu khi nó không phải là những hình và hình học đơn giản như hình vuông, hình tròn, hình bình hành.hoặc hình vẽ, hình ảnh quá rắc rối phức tạp khiến người tiêu dùng không dễ nhận thức và không dễ ghi nhớ được đặc điểm của hình; hoặc hình vẽ, hình ảnh mang tính mô tả chính hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Vídụ: nhãn hiệu gắn trên xe ô tô Audi - Nhãn hiệu kết hợp: là nhãn hiệu được kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh. Những nhãn hiệu này có thể được thể hiện trắng đen hoặc kết hợp cả màu sắc. Sự kết hợp này cũng tạo thành một tổng thể gây ấn tượng, dễ nhận biết, có khả năng phân biệt và đáp ứng được yêu cầu của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Chính vì thế loại nhãn hiệu này cũng thường được nhà sản xuất lựa chọn.
- Ví dụ: Nhãn hiệu thời trang cao cấp Chanel 8 * Một số loại nhãn hiệu đặc biệt khác: Khác với nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu do nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh cùng sử dụng. Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận có thể chứa các dấu hiệu mang tính chất mô tả: chất lượng, xuất xứ địa lý, tính chất. + Nhãn hiệu tập thể (Collective marks) Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.5 Nhãn hiệu tập thể được áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ. Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu của một tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty.), trong đó, tổ chức tập thể xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể (như các chỉ tiêu chung về chất lượng, nguồn gốc sản phẩm, phương pháp sản xuất.