Chương 1. Lý luận về chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp và hạn chế chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp. Thực trạng pháp luật Việt Nam về hạn chế chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp và thực tiễn áp dụng. Định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và việc áp dụng các quy định về hạn chế chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
11 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Theo bố cục luận án, nội dung nghiên cứu đầu tiên của đề tài là tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án nhằm phát hiện những điểm mà luận án có thể kế thừa, tiếp tục đi sâu nghiên cứu và phát triển hoàn chỉnh hơn trong luận án. Với tinh thần đó, tác giả tập trung tổng quan nghiên cứu những nội dung chính sau đây. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp Hiện nay, nghiên cứu về chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN không phải là vấn đề mới mẻ.
Xuất phát từ vai trò quan trọng mà các giá trị của quyền SHCN mang lại nên việc khai thác lợi ích kinh tế từ các đối tượng của quyền SHCN luôn được cá nhân, tổ chức quan tâm và thường xuyên thực hiện. Cùng với thực tiễn sôi động đó, rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN cũng đã ra đời và thể hiện dưới những hình thức khác nhau. Trên cơ sở thực tiễn chuyển giao và số lượng công trình nghiên cứu trong thời gian qua, có thể sắp xếp và chia các công trình nghiên cứu về chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN thành các nhóm công trình sau: - Công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. - Công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển quyền sử dụng sáng chế và các đối tượng khác của quyền SHCN.
Công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Cuốn chuyên khảo Trademark Law: Protection, Enforcement and Licensing (Pháp luật về Nhãn hiệu: Bảo hộ, Thực thi và Chuyển quyền sử dụng), của tác giả Adam L. Brookman và Boyle Fredrickson, S. được xuất 12 bản năm 2016 bởi nhà xuất bản Wolter Kluwer4 đã nêu ra những chức năng cơ bản của nhãn hiệu, các chiến lược pháp lý và kinh doanh cho việc lựa chọn và sử dụng nhãn hiệu. Đồng thời, cuốn sách chỉ ra việc bảo hộ, khai thác, duy trì và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN là nhãn hiệu theo pháp luật Hoa Kỳ.
Cuốn chuyên khảo Trademark licensing (Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu) của các tác giả Neil J. Wilkof và Daniel Burkitt5. Nội dung cuốn sách đề cập về li-xăng nhãn hiệu và các chức năng của nhãn hiệu, hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng li-xăng, quy định các điều khoản về quyền của các bên trong hợp đồng, các hình thức li-xăng nhãn hiệu theo pháp luật Hoa Kỳ bao gồm: li-xăng bằng lời nói (oral license), li-xăng mặc định (implied license), li-xăng ngầm định (constructive license). Ngoài ra, tác giả còn so sánh các quy định về li-xăng nhãn hiệu theo pháp luật Hoa Kỳ trong mối tương quan với các quy định về li-xăng nhãn hiệu theo Luật Cạnh tranh của EU, pháp luật của Đức và của Pháp.
Luận án tiến sĩ Khoa học xã hội nhân văn - Luật tại Trường Đại học Vilnius của tác giả Arūnas Želvys6, Problems of Trademark Licensing (Những vấn đề về li-xăng nhãn hiệu) đã đề cập tới những bất cập của pháp luật Lít-va về li-xăng nhãn hiệu như: Luật nhãn hiệu không trực tiếp điều chỉnh việc kiểm soát chất lượng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được li-xăng; hợp đồng li-xăng nhãn hiệu và hợp đồng nhượng quyền thương mại là những hợp đồng độc lập mặc dù đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là quyền đối với nhãn hiệu được coi là một yếu tố của hợp đồng li-xăng nhãn hiệu; hợp đồng li-xăng nhãn hiệu mở (open trademark license agreement) đặc biệt là li-xăng độc quyền nhãn hiệu không có điều khoản xác lập các hạn chế về lãnh thổ (nhập khẩu, xuất khẩu). Từ đó, luận án đã đưa ra những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về li-xăng nhãn hiệu tại Lít-va: (1) việc đăng ký li-xăng 4. Brookman và Boyle Fredrickson (2016), Trademark Law: Protection, Enforcement and Licensing, Wolter Kluwer. Wilkof và Daniel Burkitt (2005), Trademark licensing, Sweet & Maxell Ltd.
Arūnas Želvys (2011), Problems of Trademark Licensing, PhD. Thesis of Social Sciences and Humanities - Law, University of Vilnius, Litva. 13 nhãn hiệu không còn phù hợp với xu hướng của luật nhãn hiệu hiện đại mà hệ thống đăng ký nên được chuyển đổi bằng cách từ chối đăng ký li-xăng như một điều kiện để chống lại bên thứ ba. Tuy nhiên vẫn để lại khả năng đăng ký li-xăng nếu các bên muốn.
(2) Đề xuất quyền độc lập cho bên nhận li-xăng không độc quyền được phép kiện ra Toà án trong trường hợp nhãn hiệu bị xâm phạm với điều kiện bên nhận li-xăng phải thông báo với bên li-xăng về việc nộp đơn ra toà án trừ khi các bên có thoả thuận khác. (3) Bên li-xăng có thể thu hồi nhãn hiệu đang được li-xăng nếu họ không sử dụng hoặc làm mất hiệu lực của nhãn hiệu. (4) Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu mở đặc biệt là li-xăng độc quyền nhãn hiệu không có điều khoản xác lập các hạn chế về lãnh thổ (nhập khẩu, xuất khẩu) không bị coi là vi phạm các quy tắc của luật cạnh tranh. Bài viết của tác giả Neil J.
Wilkof “Trademark licensing: The once and future narrative” (Li-xăng nhãn hiệu: hiện tại và tương lai) đăng trên Tạp chí Nhãn hiệu vào năm 20147 đã giới thiệu tổng thể về sự phát triển của pháp luật li-xăng nhãn hiệu theo hệ thống thông luật (common law), những thách thức được đặt ra về tính hiệu lực pháp lý của việc li-xăng khi được đặt trong học thuyết nhãn hiệu cổ điển, sự đa dạng trong các cách tiếp cận pháp lý về li- xăng nhãn hiệu giữa các quốc gia theo hệ thống thông luật cổ điển và các định hướng tương lai cho sự phát triển của li-xăng nhãn hiệu. Bài viết “Trademark Licensing in Canada: The Control Regime Turns 21” (Li-xăng nhãn hiệu tại Canada: Kiểm soát chế độ khi bước sang thế kỷ 21) của tác giả Sheldon Burshtein trong nghiên cứu của mình trên tạp chí Nhãn hiệu8 đã chỉ ra vấn đề li-xăng tại Canada vào thời kỳ trước khi ban hành Luật nhãn hiệu vào năm 1993; giới thiệu về Luật nhãn hiệu năm 1993; các quy định của Luật nhãn hiệu về các yêu cầu khi li-xăng: điều kiện của bên nhận li- xăng, hợp đồng li-xăng bằng văn bản/bằng lời nói, li-xăng mặc định (implied 7. 14 licensing), những quan hệ không liên quan đến li-xăng; các yêu cầu liên quan đến kiểm soát chất lượng trong khi li-xăng, giải quyết các tranh chấp diễn ra trong quá trình li-xăng như tranh chấp giữa bên li-xăng và bên nhận li-xăng, sự ép buộc của bên nhận li-xăng… Đồng thời, bài viết còn so sánh giữa pháp luật của Canada và pháp luật của Anh và Hoa Kỳ về vấn đề li-xăng nhãn hiệu. Bài viết “Quality Control in Trademark Licensing: How much is too much” (Kiểm sát chất lượng khi li-xăng nhãn hiệu: bao nhiêu là quá nhiều) của tác giả Kathleen T.
Petrich đăng trên tạp chí Li-xăng năm 20149 có đề cập tới tầm quan trọng của việc kiểm soát chất lượng khi li-xăng nhãn hiệu; sự nguy hiểm khi tiến hành li-xăng nhãn hiệu không có kiểm soát chất lượng (được coi là “naked licensing”) như: mất đi ý nghĩa của nhãn hiệu, bị Toà án tước đi quyền chủ sở hữu nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ thua cuộc trong những vụ việc xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, mất đi quyền tự bảo vệ đối với nhãn hiệu của mình. Bài viết cũng chỉ ra những điểm giao nhau giữa nhiệm vụ kiểm soát chất lượng của chủ sở hữu nhãn hiệu và chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi có tội. Đó là việc kiểm soát quá nhiều khi li-xăng nhãn hiệu sẽ dẫn tới việc chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi có tội của chủ sở hữu vì việc kiểm soát quá nhiều được coi như là tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất hay phân phối các sản phẩm của bên nhận li-xăng. Cuối cùng bài viết cũng đưa ra một số giải pháp để chủ sở hữu nhãn hiệu tránh việc mất nhãn hiệu nếu không kiểm soát hiệu quả hoặc kiểm soát quá sâu bằng cách tham gia chủ động vào việc thiết kế, sản xuất… của bên nhận li-xăng để chịu trách nhiệm pháp lý là: (1) Bên li-xăng sẽ tuyên bố về tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng và để cho bên nhận li-xăng thiết kế và sản xuất dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng tổng thể được thiết lập bởi bên li-xăng; (2) Việc li-xăng nên được viết thành một hợp đồng trong đó mô tả tiêu chuẩn về chất lượng có thể chấp nhận được cho hàng hoá hoặc dịch vụ sử dụng nhãn hiệu được li-xăng; (3) Khi 9.
15 li-xăng phải cần khẳng định bên li-xăng có quyền giám sát về tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng; (4) Bên li-xăng phải chủ động trong việc kiểm soát chất lượng như kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu trên hàng hoá như thế nào; (5) Trách nhiệm của bên nhận li-xăng về việc bồi thường thiệt hại cho bên li-xăng về trách nhiệm pháp lý về hành vi có lỗi… Nghiên cứu của Raman Mittal “Analysis of the mysterious element of quality control in trademark licensing” (Phân tích yếu tố bí mật trong kiểm soát chất lượng khi li-xăng nhãn hiệu) trên Tạp chí quyền SHTT (Journal of Intellectual Property Rights) năm 201010 đã nói về thực tế li-xăng nhãn hiệu được thực hiện mà không có sự kiểm soát chất lượng, cái mà theo cách nói pháp lý là “li-xăng trần” (naked licensing). Bài viết khai thác khía cạnh về mặt ý nghĩa, nguồn gốc, các dạng, các nhân tố căn bản của kiểm soát chất lượng như một điều luật mà chủ sở hữu của nhãn hiệu phải thực hiện kiểm soát chất lượng đối với các hoạt động của các bên nhận li-xăng. Có hai loại điều khoản trong Luật Nhãn hiệu năm 1999 của Ấn Độ đề cập tới việc kiểm soát chất lượng. Một là điều khoản trực tiếp ở Điều 49(1)(b) và Điều 50(1)(d) yêu cầu chủ sở hữu nhãn hiệu đã được đăng ký phải kiểm soát chất lượng với những người sử dụng nhãn hiệu đó.
Hai là những điều khoản yêu cầu kiểm soát chất lượng được quy định ngầm trong các điều khoản khác của Luật Nhãn hiệu như Điều 57 và Điều 9.