Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi vi phạm nhãn hiệu ở Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM NHÃN HIỆU 1. Khái quát chung về pháp luật xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu Nhắc đến nhãn hiệu người ta thường liên tưởng đến biểu tượng của các loại hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau trong nền kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, nhãn hiệu đã xuất hiện từ thời cổ đại, xa xưa người nguyên thủy đã biết sử dụng các kí hiệu để đánh dấu sở hữu trên các vật nuôi của mình (Vũ Thị Hải Yến, 2021, p.
Họ cho rằng những dấu hiệu này là để phân biệt và đánh dấu quyền sở hữu. Ở đế chế Roma, dấu hiệu được sử dụng với nhiều mục đích kinh tế khác nhau. Bước vào thời kì Phục hưng, khi đế chế Roma tan rã, các dấu hiệu vẫn không ngừng được sử dụng. Ban đầu, các dấu hiệu được sử dụng để xác định nhà sản xuất, với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng.
Sau đó nó lại được sử dụng với vai trò thể hiện lợi ích của nhà sản xuất hơn là vì người tiêu dùng. Đến giai đoạn mà quảng cáo được xem như là hành vi không lành mạnh, dấu hiệu lại được sử dụng với ý nghĩa xác định thương hiệu của họ trên thị trường (Vũ Thị Hải Yến, 2021, p. Sau cùng, dấu hiệu đã chính thức được pháp luật công nhận giá trị tài sản tương đương như các loại tài sản khác. Thuật ngữ pháp lí “nhãn hiệu” được chấp nhận và sử dụng từ thời Phục hưng cho đến ngày hôm nay.
Khái niệm nhãn hiệu và hành vi xâm phạm nhãn hiệu 1. Nhãn hiệu Trải qua quá trình hình thành và phát triển, đến nay nhãn hiệu đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường và được pháp luật bảo hộ một cách chặt chẽ. Nhãn hiệu được quy định trong hàng loạt các ĐƯQT như: Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa Madrid, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS)… Trong đó, Công ước Paris và Thỏa ước Madrid đều không đưa ra định nghĩa cụ thể đối với nhãn hiệu. Tại điều 6 Công ước Paris chỉ quy định phạm vi những dấu hiệu mà các nước thành viên cần cấm sử dụng hoặc đăng ký làm nhãn hiệu.
Thỏa 10 ước Madrid chỉ quy định về quy trình, điều kiện đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Hệ thống Madrid. Phải tới một thế kỷ sau, khi Hiệp định TRIPS ra đời thì mới đưa ra khái niệm về nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 15b như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Đây là một khái niệm mở về nhãn hiệu mà Hiệp định TRIPS đưa ra, không hạn chế các loại dấu hiệu có thể cấu thành nhãn hiệu mà chỉ yêu cầu dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là phải có “khả năng phân biệt”. Trường hợp các dấu hiệu không có khả năng phân biệt, các thành viên có thể quy định rằng điều đó phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng.
Các nước thành viên cũng có thể quy định điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được. Trước đó, Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO) cũng đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu là: “bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh”. Ở Việt Nam, giai đoạn đầu nhãn hiệu được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau với tên gọi là “nhãn hiệu hàng hóa”. Văn bản pháp lý đầu tiên về vấn đề bảo hộ QSHCN là Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 ban hành “Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa”.
Tại khoản 1 Điều 3 quy định: “Nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ pháp lý là những dấu hiệu được chấp nhận có thể là từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình nổi. hoặc là sự kết hợp các yếu tố trên, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc kết hợp. Nếu khái niệm mà Nghị định 197 đưa ra chỉ mang tính chất liệt kê các dấu hiệu được chấp nhận của một nhãn hiệu thì đến Pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp 1989 đã bổ sung thêm chức năng như sau: “Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
11 Có thể thấy cả hai khái niệm này đều mới chỉ dừng lại ở mức liệt kê đặc điểm nhận dạng nhãn hiệu về mặt hình thức là chưa đủ. Với chức năng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ “cùng loại” cũng khiến quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu bị giới hạn. Đồng thời việc sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” vô hình chung khiến phạm vi nhãn hiệu bị thu hẹp lại chỉ với hàng hóa mà không bao gồm dịch vụ trong khi đó khái niệm có đề cập tới dịch vụ. Những điều này chưa có sự tương thích với khái niệm mà Hiệp định TRIPS đưa ra và chưa phù hợp với thực tiễn.
Mặc dù vậy, cả hai khái niệm này nói riêng và Nghị định 197, Pháp lệnh 1989 nói chung đã góp phần tạo nên nền tảng cơ bản về nhãn hiệu tại Việt Nam, đáp ứng được cơ bản vấn đề điều chỉnh bằng pháp luật đối với nhãn hiệu thời kỳ này. Năm 2005 Luật SHTT của Việt Nam chính thức ra đời, tới nay đã trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 và 2019. Theo đó, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng phổ biến hiện nay được quy định tại khoản 16, Điều 4 Luật SHTT như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Tùy vào hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau mà sẽ có cách hiểu về nhãn hiệu khác nhau, Luật SHTT Việt Nam đã đưa ra một khái niệm bao quát về nhãn hiệu dựa trên chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác nhau.
Kết hợp với các quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu từ Điều 72 đến Điều 74 Luật SHTT thì khái niệm nhãn hiệu của Việt Nam đã có sự tương thích với các ĐƯQT và đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. *Phân loại nhãn hiệu Phân loại nhãn hiệu có thể dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như hình thức thể hiện của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu (gồm: nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình, nhãn hiệu kết hợp cả chữ và hình); Căn cứ vào danh tiếng và tính phổ biến của nhãn hiệu (gồm: nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nổi tiếng). Trên thực tế, tiêu chí được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất là dựa vào chức năng, theo đó nhãn hiệu được phân thành các loại sau: - Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của 12 tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó (khoản 17 Điều 4 Luật SHTT). - Nhãn hiệu chứng nhận: là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu (khoản 18 Điều 4 Luật SHTT).
- Nhãn hiệu liên kết: là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau (khoản 19 Điều 4 Luật SHTT). *Chức năng của nhãn hiệu Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhãn hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng và có rất nhiều chức năng khác nhau nhưng nhìn chung nó mang một số chức năng nổi bật sau: - Chức năng phân biệt: Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT đã dựa trên chức năng này để đưa ra khái niệm về nhãn hiệu, vậy nên có thể khẳng định rằng đây là chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu. Trong nền kinh tế hiện nay tồn tại rất nhiều loại hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải dựa vào các dấu hiệu, nhãn hiệu sản phẩm để phân biệt chúng với nhau và để đánh giá chất lượng, giá thành sản phẩm. Nếu không có nhãn hiệu, người tiêu dùng khó có thể nhận biết được những sản phẩm đạt chuẩn, dễ lựa chọn phải hàng giả, hàng kém chất lượng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp không có nhãn hiệu cũng khó có thể khẳng định được vị trí của mình trên thị trường và trong lòng người tiêu dùng một cách rõ nét. - Chức năng thông tin: giúp người tiêu dùng có thêm thông tin để lựa chọn hàng hoá, dịch vụ. Nhãn hiệu được xem là biểu tượng thương mại của doanh nghiệp, dựa trên nhãn hiệu người tiêu dùng có thể tra cứu được thông tin của hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Tra cứu thông qua 13 các website, chương trình quảng cáo và qua những người tiêu dùng khác để đưa ra lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ phù hợp nhất.
- Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc: nhãn hiệu là một chỉ dẫn cô đọng, một sự giới thiệu ngắn gọn về sản phẩm, nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm đó. Khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng luôn muốn biết về nguồn gốc xuất xứ để xem xét độ uy tín của nơi sản xuất mà lựa chọn sử dụng, dựa trên nhãn hiệu người tiêu dùng hoàn toàn có thể nhận biết được nguồn gốc của sản phẩm. - Chức năng quảng cáo: Thông qua vai trò cá thể hóa sản phẩm, màu sắc, sự nổi tiếng, nhãn hiệu góp phần quảng cáo sản phẩm cho doanh nghiệp để sản phẩm có thể sớm đến được với người tiêu dùng.