Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÀI SẢN TRÍ TUỆ VÀ PHÁP LUẬT ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ 1. Khái quát về tài sản trí tuệ 1. Khái niệm tài sản trí tuệ 1. Khái niệm tài sản Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng.
Khái niệm tài sản đã đƣợc đề cập từ rất lâu trong thực tiễn cũng nhƣ trong khoa học pháp lý. Theo nghĩa chung nhất, tài sản đƣợc hiểu là “của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu” [54]. Theo cách định nghĩa này, phạm vi của tài sản không đƣợc xác định một cách rõ ràng. Cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thức con ngƣời về giá trị vật chất thì phạm vi của tài sản qua mỗi thời kỳ lại đƣợc nhìn nhận ở góc độ khác nhau.
Theo thuật ngữ kế toán, tài sản đƣợc hiểu là những nguồn lực đƣợc sở hữu hay kiểm soát bởi doanh nghiệp, hình thành từ kết quả của hoạt động kinh doanh trong quá khứ và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tƣơng lai cho doanh nghiệp. Định nghĩa này đã nêu ra các đặc điểm cơ bản của tài sản trong phạm vi mối quan hệ với doanh nghiệp: thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, hình thành từ các nghiệp vụ trong quá khứ và có khả năng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, giúp cho việc xác định và ghi nhận tài sản trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Trong các văn bản pháp luật, khái niệm tài sản đƣợc quy định tại Điều 163, Bộ luật Dân sự năm 2005 nhƣ sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo quy định này thì tài sản chỉ tồn tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Liên quan đến quy định tại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều 163, một số điều luật khác quy định về việc phân loại tài sản trong Bộ luật Dân sự nhƣ Điều 174, Điều 175, Điều 176, Điều 177, Điều 178, Điều 179, Điều 180, Điều 181. Qua quy định của các điều luật này có thể nhận thấy: khái niệm tài sản đƣợc đƣa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chƣa xác định rõ đƣợc phạm vi của tài sản; các quy định liệt kê các loại tài sản chƣa quy định cụ thể về tiền và giấy tờ có giá; phạm vi quyền tài sản chƣa đƣợc xác định rõ và quy định về quyền sở hữu dƣờng nhƣ tách biệt với tài sản. Nhƣ vậy có thể thấy cách hiểu về tài sản có sự khác biệt tùy theo từng góc độ tiếp cận. Sự khác biệt này xuất phát từ chính tính thực tiễn của khái niệm tài sản.
Tài sản là công cụ của đời sống xã hội, phục vụ các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, phụ thuộc từng góc độ tiếp cận, từng mục đích sử dụng mà khái niệm tài sản và cách phân loại tài sản có sự thay đổi. Tuy nhiên, các nhà làm luật cũng cần xây dựng một định nghĩa về tài sản, nêu ra các đặc trƣng cơ bản của tài sản để có cơ sở xác định phạm vi của tài sản. Dƣới góc độ pháp lý, tính sở hữu đƣợc coi là một trong những đặc trƣng cơ bản của tài sản.
Những nguồn lực đƣợc coi là tài sản đối với một tổ chức hay một cá nhân chỉ khi tổ chức, cá nhân đó có quyền sở hữu (tức là có sự chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) đối với nguồn lực đó. Quyền sở hữu là cơ sở để tổ chức, cá nhân khai thác các giá trị của tài sản và ngăn ngừa sự xâm phạm của chủ thể khác đối với tài sản của mình. Do đó, khái niệm tài sản dƣới góc độ pháp lý có thể đƣợc hiểu là những nguồn lực có giá trị vật chất hoặc tinh thần thuộc sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân, đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Khái niệm tài sản trí tuệ: Tài sản của một doanh nghiệp nhìn chung đƣợc chia thành hai loại: tài sản hữu hình – gồm nhà xƣởng, máy móc, tài chính và cơ sở hạ tầng, tài sản vô hình – gồm từ nguồn nhân lực và bí quyết kỹ thuật đến ý tƣởng, chiến 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lƣợc, kế hoạch kinh doanh, thƣơng hiệu, kiểu dáng và các kết quả vô hình khác đƣợc tạo ra bởi các tài năng sáng tạo và đổi mới của công ty.
Theo truyền thống, tài sản hữu hình là tài sản có giá trị chính của một công ty và đƣợc coi là có tính quyết định trong việc xác định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trên thị trƣờng. Trong những năm gần đây, các tài sản vô hình, trong đó có tài sản trí tuệ đang ngày càng trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình. Tài sản trí tuệ là một loại vốn của chu trình sản xuất, do con ngƣời sáng tạo ra thông qua các hoạt động tƣ duy, sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Liên quan đến khái niệm tài sản trí tuệ, trong các văn bản pháp lý cũng nhƣ thực tiễn có các thuật ngữ sau đây: sở hữu trí tuệ (Intellectual property), quyền sở hữu trí tuệ (Intellectual property rights).
Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới: Sở hữu trí tuệ là thuật ngữ đề cập đến những sản phẩm sáng tạo của trí óc nhƣ sáng chế; những sản phẩm văn học và nghệ thuật; và biểu tƣợng, tên và hình ảnh sử dụng trong thƣơng mại. Sở hữu trí tuệ đƣợc phân loại thành hai dạng: - Sở hữu công nghiệp (industrial property): bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý. Trong cuốn “WIPO Intellectual property handbook ” của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ theo nghĩa rộng nhất đƣợc hiểu nhƣ sau: “sở hữu trí tuệ là quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật”. Nhƣ vậy, có thể hiểu sở hữu trí tuệ là sở hữu các tài sản trí tuệ.
Tuy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, vấn đề cốt lõi trong khái niệm này là “sở hữu” phải hợp pháp, tức là phải đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận. Việc Nhà nƣớc thừa nhận một chủ thể nào đó là tác giả/chủ sở hữu tài sản trí tuệ và cấp cho tác giả/chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó các quyền đối với tài sản trí tuệ đƣợc gọi là quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ cho phép ngƣời sáng tạo hoặc chủ sở hữu của sáng chế, nhãn hiệu hoặc bản quyền khai thác các lợi ích thu đƣợc từ việc sử dụng hoặc đầu tƣ vào các tài sản đó. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung tại Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ) quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.
- Các đối tƣợng của quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả: các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình, chƣơng trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chƣơng trình đƣợc mã hóa. - Các đối tƣợng sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh. - Giống cây trồng. Thông tƣ liên tịch số 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC ngày 17/12/2014 quy định việc định giá kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách nhà nƣớc quy định về tài sản trí tuệ nhƣ sau: Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, có tính sáng tạo, xác định đƣợc, kiểm soát đƣợc và có khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu tài sản đó.
Tài sản trí tuệ bao gồm đối tƣợng đƣợc bảo hộ và đối tƣợng không đƣợc bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ nhƣ sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thƣơng mại, giống cây trồng, chƣơng trình máy tính, tác phẩm khoa học, sáng kiến, giống vật nuôi, thiết kế kỹ thuật [4]. Nhƣ vậy, pháp luật Việt Nam thừa nhận tài sản trí tuệ là một loại tài sản gắn liền với các thành quả sáng tạo của con ngƣời. Các thành quả sáng tạo đó hoặc là các tài sản xuất phát từ các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật (các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học), cũng có thể là các tài sản từ các hoạt động sáng tạo kỹ thuật (các sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn), hoặc là từ các hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng dụng (kiểu dáng công nghiệp) hoặc từ các hoạt động sáng tạo trong kinh doanh (các nhãn hiệu, tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh,. Khái niệm tài sản trí tuệ không đồng nhất với khái niệm “sở hữu trí tuệ”.
Bên cạnh các đối tƣợng sở hữu trí tuệ đƣợc pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản trí tuệ còn bao gồm cả các đối tƣợng không đƣợc bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ nhƣ thiết kế kỹ thuật, sáng kiến, giống vật nuôi,… Khi xem xét tài sản trí tuệ dƣới góc độ một loại tài sản của doanh nghiệp, tài sản trí tuệ đƣợc định danh trong khái niệm về tài sản vô hình. Theo quy định tại Tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản số 13 về Thẩm định giá tài sản vô hình (ban hành kèm theo Thông tƣ số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính): tài sản trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình. Tài sản vô hình: là tài sản không có hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế. Tài sản vô hình đƣợc đề cập trong tiêu chuẩn này phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: - Không có hình thái vật chất; tuy nhiên một số tài sản vô hình 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.