Phần Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và quy định pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Kết luận chƣơng 1 Chƣơng 2. Thực trạng áp dụng các chế tài bồi thƣờng thiệt hại trong các vụ giải quyết tranh chấp do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Việt nam- Một số kiến nghị hoàn thiện Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.Khái quát chung về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 1.Khái niệm, đặc điểm, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Khái niệm bồi thường thiệt hại Bồi thƣờng thiệt hại một trong những chế định xuất hiện khá lâu đời trong nền lập pháp của các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới nói chung và nền lập pháp của nƣớc ta nói riêng, tồn tại nhƣ một trách nhiệm song hành cùng hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể đƣợc pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Một trong những nền lập pháp lâu đời của thế giới là Luật tục La Mã đã có những ghi nhận về chế định “nộp tiền chuộc tội”1 và đồng thời cũng có những sự ghi nhận về những hình thái đầu tiên của chế định bồi thƣờng qua một số tục nhƣ “ trả nợ máu”2 của Bộ luật Xa-Lích…Đây đƣợc xem là những dấu hiệu tiền đề cho sự hình thành một trách nhiệm tồn tại trong pháp luật dân sự trong tƣơng lai. Ở nƣớc ta trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đã tồn tại từ rất lâu trong thời kì phong kiến đã có những ghi nhận mà nổi bật là hƣớng quy định có lợi cho ngƣời bị thiệt hại nhận lại những khoảng lợi nhằm mục đích bồi thƣờng điều này đã đƣợc quy định trong một số bộ luật đƣợc xem đỉnh cao của thời kì đó là: luật Hồng Đức, luật Gia Long. Xét về mặt lí luận, khi tiến hành nghiên cứu về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, thì cần phải làm rõ những khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại là những nền móng cơ bản cho vấn đề này. Theo từ điển tiếng Việt : “Bồi thường được hiểu là đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm” 3 Theo đó quan hệ 1 Giáo trình Lý luận nhà nƣớc và pháp luật, NXB Hồng Đức, Tr102 2 Giáo trình Lý luận nhà nƣớc và pháp luật, NXB Hồng Đức, Tr103 3 Viện ngôn ngữ học - Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003, Tr82 11 phát sinh khi chủ thể hây ra “thiệt hại” thì phải có trách nhiệm bồi thƣờng nhƣng chỉ ở dƣới góc độ bù đắp bằng “tiền” nhằm giảm bớt hay nói cách khác là khỏa lấp đi những thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần mà ngƣời bị thiệt hại phải chịu, đồng thời đây đƣợc xem là một dạng trách nhiệm và nghĩa vụ đƣơng nhiên khi chủ thể có hành vi thiệt hại gây ra.
Đối với cách giải thích bằng thuật ngữ pháp lí của Từ điển luật học “ bồi thƣờng thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.” Qua cách giải thích thuật ngữ nhƣ trên có thể hiểu BTTH chính là một chế tài pháp luật “buộc” bên gây thiệt hại về hai khía cạnh chịu tác động đó là vật chất: các quan hệ tài sản. và thiệt hại tinh thần: uy tín, nhân phẩm, danh dự… và phải khắc phục hậu quả, ở đây khắc phục đƣợc hiểu là làm giảm đi phần nào đó thiệt hại bằng cách đền bù tổn thất cho ngƣời bị thiệt hại. Nhìn chung cách khắc phục này chính là dùng giá trị vật chất có giá trị quy đổi nhằm “bù đắp” cho bên bị thiệt hại Theo đó quy định của pháp luật Việt Nam, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại Điều 528 về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại nói chung và chƣơng XX về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Ngoài điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Bồi thƣờng thiệt hại nhƣng chỉ thể hiện: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”4 Tại Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” 5 và tƣơng ứng với chƣơng XX về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Nhìn chung, trong các quy định đó đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thƣờng, năng lực chịu trách nhiệm bồi thƣờng, thời hiệu khởi kiện bồi thƣờng…. Dƣới góc độ pháp lí, căn cứ từ những quy định chung và căn cứ phát sinh nhƣ trên, Quan điểm thứ nhất đã có định nghĩa về Bồi thƣờng thiệt hại nhƣ sau: “ 4 Bộ luật dân sự 2015, điều 13 5 Bộ luật dân sự 2015, điều 275 12 Nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đó ngƣời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác mà gây ra thiệt hại phải bồi thƣờng những thiệt hại do mình gây ra” 6 Theo đó dƣới cách định nghĩa trên về khái niệm bồi thƣờng thiệt hại là chƣa hoàn chỉnh và còn gặp một số vƣớng mắc, cụ thể là việc ngƣời có hành vi xâm phạm đến các quan hệ, quyền và lợi ích đƣợc đƣợc pháp luật bảo vệ đều phải thực hiện trách nhiệm bồi thƣờng. Tuy nhiên cách định nghĩa này đã bỏ qua một yếu tố quan trọng nhằm phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng đó chính là “hành vi trái pháp luật” bởi nếu xét trong khái niệm trên thì mọi hành vi xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác đều phải bồi thƣờng. Tức là về mặt lí luận theo khái niệm trên có thể thấy rằng đối với các hành vi nếu không vi phạm pháp luật nhƣ trƣờng hợp về “tình thế cấp thiết”, “phòng vệ chính đáng” mà gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe… đều phải có trách nhiệm bồi thƣờng, chính cách định nghĩa này là chƣa thỏa đáng khi xét về mặt hành vi của trách nhiệm này khi phát sinh.
Theo quan điểm thứ hai, cho rằng “Bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc hình thành giữa các chủ thể bất kỳ mà trƣớc đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhƣng hành vi gây thiệt hại không xuất phát từ hợp đồng”7. Là một cách định nghĩa mang tính phổ quát chung cho trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại, trong mối quan hệ giữa ngƣời có hành vi gây ra thiệt hại và ngƣời bị thiệt hại hay nói cách khác là bên có trách nhiệm bồi thƣờng và bên đƣợc bồi thƣờng điều đƣợc phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh về chế định này chứ không phải là một loại trách nhiệm phát sinh từ những điều khoản trong hợp đồng, tức khi có thiệt hại xảy ra giữa các bên do hành vi đƣợc pháp luật điều chỉnh về chế định bồi thƣờng thì chủ thể gây thiệt hại phải đƣơng nhiên có trách nhiệm bồi thƣờng. Đồng thời theo quan điểm trên thì trách nhiệm trên cũng xuất phát từ hai chủ thể “bất kì” tức ở đây tác giả đã không đặt yếu tố về mặt “năng lực” của chủ thể khi đƣa ra khái niệm. Yếu tố về hành vi cũng chỉ là hành vi gây thiệt hại nhƣ quan điểm trƣớc đã 6 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Luật Dân sự, tập II, Tr505 7 Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức.
Tuy nhiên nếu xét rộng ra thì cách định nghĩa này đã mang lại những nội dung khái quát về các quan hệ và đối tƣợng mà pháp luật bảo vệ khi có thiệt hại xảy ra. Quan điểm thứ ba nhận định về BTTH nhƣ sau: “có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.” 8 Đối với cách định nghĩa này đã nổi bật lên những căn cứ để nhằm phát sinh và giải thích cho ngƣời nghiên cứu hiểu đƣợc về khái niệm của BTTH, cụ thể ở đây BTTH chính là một chế định dân sự đƣợc điều chỉnh bởi những quy định cụ thể của Luật dân sự, nên “trách nhiệm” phát sinh từ chế định này chính là trách nhiệm dân sự, tức là chính trách nhiệm phát sinh trong lĩnh vực này sẽ buộc ngƣời thực hiện hành vi phải gánh chịu “hậu quả bất lợi”, nên có thể nói BTTH là một trách nhiệm dân sự nói chung. Dƣới góc độ về “hành vi” đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý mà trong đó “nghĩa vụ pháp lí” chính là nghĩa vụ mà mỗi cá nhân phải tuân theo và phải thực hiện theo những quy định hay chính sách của nhà nƣớc, nói cách khác hành vi này chính là hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời chính từ hành vi này là nguyên nhân dẫn đến những “tổn hại” mà ngƣời vi phạm gây ra cho ngƣời khác. Đây chính là những yếu tố về hành vi và thiệt hại thì chủ thể vi phạm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng về tổn thất mà mình gây ra.
Về yêu cầu có thể thấy đối với quan điểm trên đã nêu ra những thành tố cơ bản và đầy đủ mà một trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại bắt buộc phải có. So với hai quan điểm trƣớc thì quan điểm thứ ba thể hiện một cách khá đầy đủ và chi tiết về mức độ mô tả cho ngƣời tiếp cận về khoa học pháp lí có thể nhận diện đƣợc khái niệm về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.