MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế xã hội muốn có sự phát triển, cần thiết phải có sự tích tụ tư bản tồn tại. Hoạt động này sẽ làm gia tăng quy mô sản xuất kéo theo sự gia tăng quy mô ở cả hai phía cung sản xuất và cầu tiêu dùng, từ đó kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Trong các hình thức tích tụ tư bản, hoạt động góp vốn là một trong những hình thức quan trọng nhất.
Sự phát triển của xã hội loài người ngày càng vượt bậc khiến cho đối tượng được mang góp vốn cũng ngày càng có sự đa dạng, không chỉ dừng lại ở các đối tượng tài sản hữu hình mà ngay cả các tài sản vô hình cùng có thể trở thành đối tượng để tham gia vào hoạt động này, trong đó có tài sản sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng. Trong giai đoạn hiện nay, việc góp vốn bằng nhãn hiệu đã trở thành thông lệ phổ biến trên thế giới bởi vai trò hết sức đặc biệt của nó. Nhãn hiệu ngày càng được thừa nhận với vai trò quan trọng đối với sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Với các doanh nghiệp, nhãn hiệu đóng vai trò như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
Bằng việc xây dựng, phát triển và sở hữu các nhãn hiệu, uy tín và vị thế của doanh nghiệp luôn được củng cố và mở rộng; khả năng cạnh tranh, thị phần và doanh thu của doanh nghiệp được nâng cao. Tại Việt Nam, vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu còn hết sức mới mẻ. Trước đây, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng tài sản vô hình này (Khoản 1 Điều 2). Tiếp đó, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 cũng như Luật đầu tư (LĐT) năm 1 2020 đều cho phép nhà đầu tư được quyền góp vốn bằng nhãn hiệu với tư cách là một loại tài sản vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Xu hướng hội nhập ngày càng mở rộng nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang gia nhập vào thị trường nội địa của Việt Nam cùng với những tài sản trí tuệ của họ, bao gồm không ít nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng nhãn hiệu tham gia vào hoạt động góp vốn tại Việt Nam chưa mang tính phổ biến và còn nhiều hạn chế. Điều này xuất phát từ những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định có liên quan đến vấn đề này, cũng như nhũng khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật có liên quan trên thực tế dưới cả góc độ chủ quan lẫn khách quan. Trong đó, khung pháp luật điều chỉnh cho hoạt động này chưa thật sự phát huy hiệu quả và tính khả thi trong quá trình áp dụng vào trong thực tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy định về tài sản góp vốn là nhãn hiệu, quyền tham gia góp vốn của các chủ thể kinh doanh, các vấn đề liên quan đến thời điểm góp vốn, định giá đối với giá trị quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu để tham gia vào hoạt động góp vốn và trách nhiệm liên quan đến hoạt động định giá này, vấn đề hoạch toán, kế toán khi nhãn hiệu được góp vào doanh nghiệp…Do đó, để khắc phục tình trạng nêu trên, việc làm rõ các vấn đề lý luận về góp vốn bằng nhãn hiệu, điều chỉnh pháp luật theo hướng sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật hiện hành theo hướng quy định cụ thể và điều chỉnh thống nhất hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trở thành vấn đề mang tính cấp thiết.
Để làm được điều này, cần phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam. 2 Với mong muốn làm sâu sắc và toàn diện về mặt lý luận cũng như đánh giá về việc thực hiện chính sách và thực thi của khung pháp luật có liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu để từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của khung pháp luật điều chỉnh về hoạt động này, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Luận án tiến hành nghiên cứu, phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề dưới góc độ khoa học pháp lý về lý luận một cách toàn diện và chuyên sâu liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu; phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn vận hành của khung pháp luật điều chỉnh vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam.
Từ đó, NCS đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của khung pháp luật điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu và tiếp thu các kinh nghiệm lập pháp của một số nước nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận án tập trung làm rõ những vấn đề sau: Một là, luận án giới thiệu một cách toàn diện và chuyên sâu những kiến thức lý luận cơ bản về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu cũng như nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận khoa học pháp lý về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu; Hai là, luận án thực hiện được một sự so sánh khá đầy đủ và cơ bản về khung pháp luật của Việt Nam liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn 3 hiệu qua các giai đoạn khác nhau để từ đó phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay. Ba là, luận án phân tích được tình huống thực tế của Việt Nam từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam. Cuối cùng, từ những sự phân tích nêu trên, luận án sẽ đề xuất những giải pháp hợp lý và khoa học nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, luận cứ khoa học và các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, cũng như thực tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Góp vốn bằng nhãn hiệu được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến như góc độ pháp lý và góc độ kinh tế. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề chính dưới góc độ pháp lý bao gồm việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề về lý luận của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu, thực trạng của pháp luật Việt Nam điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu và thực tiễn áp dụng các quy định này tại Việt Nam.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện được nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu, luận án được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Đối với từng nội dung của luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa; phương pháp luật học so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tế; phương pháp dự báo để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài, cụ thể như sau: - Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong tất cả các chương của luận án nhằm đảm bảo nội dung được nghiên cứu v ừ a có tính hệ thống, khái quát, vừa có tính chuyên sâu. Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu, trình bày các hiện tượng, các quan điểm pháp lý về góp vốn bằng nhãn hiệu; khái quát để phân tích và rút ra các thuộc tính, đặc trưng, bản chất và vai trò của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu; các quan điểm, quy định và thực trạng của các quy định pháp luật về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Chương 2 và Chương 3 cũng như một phần nội dung của Chương 4 liên quan đến thực tiễn của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam trong những năm gần đây. Từ đó, luận án đưa ra những đánh giá, kết luận và kiến nghị giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu (Chương 4).
- Phương pháp so sánh luật học bao gồm các phương pháp so sánh chức năng, phương pháp so sánh quy phạm và phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng một cách linh hoạt và có sự kết hợp cụ thể để so 5 sánh các khái niệm, quy định của pháp luật thực định với các khái niệm, quy định khác của pháp luật trong nước và nước ngoài có liên quan. Từ đó lý giải những điểm tương đồng, khác biệt và nguồn gốc của những điểm tương đồng khác biệt này. Qua đó, rút ra những kinh nghiệm có khả năng tiếp thu để hoàn thiện khung pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay. Phương pháp này được sử dụng ở một phần của Chương 3 và Chương 4 của luận án.
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhằm trình bày các vấn đề, nội dung của luận án theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, gắn kết, kế thừa kết quả nghiên cứu trước đó đồng thời phát triển những nội dung mới đã được xác định trong luận án. - Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu. Phương pháp này được sử dụng ở một phần Chương 2 và Chương 3 của luận án.