Khóa luận bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam. Phân tích chuyên sâu cơ sở lý luận, thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan lý luận về bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam

Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam là nội dung trọng tâm trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ. Cơ chế bảo hộ xác lập độc quyền khai thác thương mại đối với quy trình, hợp chất và chế phẩm y tế mới. Thời hạn bảo hộ tiêu chuẩn kéo dài hai mươi năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ. Pháp luật bảo đảm quyền lợi tài chính cho nhà sáng chế. Điều này tạo động lực thu hồi vốn đầu tư khổng lồ cho hoạt động nghiên cứu phát triển. Ngành dược đòi hỏi chi phí thử nghiệm lâm sàng rất cao và rủi ro thất bại lớn. Việc thừa nhận độc quyền sáng chế khuyến khích doanh nghiệp liên tục tìm kiếm các hoạt chất điều trị tiên tiến. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam luôn bám sát các chuẩn mực quốc tế từ Hiệp định TRIPS của Tổ chức Thương mại Thế giới. Quy định pháp lý cũng tích hợp cam kết từ EVFTA và CPTPP nhằm hài hòa hóa thủ tục xác lập quyền. Cơ chế bảo hộ minh bạch thúc đẩy chuyển giao công nghệ y dược từ các tập đoàn đa quốc gia. Điều này giúp nâng cao năng lực sản xuất thuốc nội địa và hiện đại hóa hệ thống y tế.

1.1. Khái niệm và đặc trưng của sáng chế ngành dược

Sáng chế dược phẩm bao gồm các hợp chất hóa học, chế phẩm sinh học, dạng bào chế hoặc phương pháp điều trị y học mới. Sáng chế phải đáp ứng ba tiêu chuẩn luật định: tính mới toàn cầu, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Đặc thù của sáng chế ngành dược nằm ở chu kỳ nghiên cứu kéo dài và chi phí thử nghiệm cực kỳ tốn kém. Sản phẩm dược phẩm tác động trực tiếp đến tính mạng con người. Do đó, việc thẩm định hồ sơ đăng ký đòi hỏi quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt nhằm xác định chính xác tính an toàn và hiệu quả trị liệu.

1.2. Vai trò kinh tế xã hội của bảo hộ sáng chế y dược

Bảo hộ sáng chế y dược tạo đòn bẩy thúc đẩy đổi mới công nghệ y tế quốc gia. Cơ chế này khuyến khích dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất dược phẩm chất lượng cao. Thị trường minh bạch giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận kiến thức khoa học thông qua công khai bản mô tả sáng chế. Các đơn vị có thể phát triển thuốc generic hợp pháp ngay khi bằng độc quyền hết hạn. Nhờ vậy, chuỗi cung ứng dược phẩm được mở rộng, góp phần gia tăng nguồn cung thuốc và ổn định thị trường an sinh xã hội.

II. Thực trạng bất cập trong bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam

Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam đang bộc lộ nhiều rào cản kỹ thuật và xã hội. Xung đột lớn nhất nằm ở việc cân bằng giữa quyền độc quyền của chủ sáng chế và quyền tiếp cận y tế cộng đồng. Khi độc quyền được thiết lập, giá thành các loại thuốc biệt dược gốc thường duy trì ở mức rất cao. Điều này tạo gánh nặng tài chính lớn cho quỹ bảo hiểm y tế và người bệnh có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên dẫn đến tình trạng nộp đơn vội vàng từ các doanh nghiệp. Nhiều hồ sơ được đăng ký khi dữ liệu thử nghiệm lâm sàng chưa thực sự hoàn thiện. Hiện tượng độc quyền kéo dài cũng xuất hiện phổ biến. Các công ty đa quốc gia thường xuyên đăng ký bảo hộ biến thể nhỏ của hoạt chất cũ nhằm duy trì hàng rào độc quyền thương mại. Ngoài ra, năng lực thẩm định chuyên môn tại cơ quan sở hữu trí tuệ còn gặp áp lực quá tải lớn. Thời gian xử lý đơn kéo dài nhiều năm làm chậm quá trình thương mại hóa thuốc.

2.1. Rào cản tiếp cận thuốc thiết yếu và áp lực độc quyền

Bảo hộ độc quyền 20 năm trao cho chủ sở hữu quyền kiểm soát nguồn cung và định giá sản phẩm trên thị trường. Do thiếu cạnh tranh trực tiếp, giá thuốc đặc trị ung thư và bệnh truyền nhiễm thường vượt quá khả năng chi trả của đa số bệnh nhân. Các hãng dược phẩm lớn tận dụng bằng sáng chế để trì hoãn việc cấp phép lưu hành cho các dòng thuốc gốc tương đương sinh học. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đến an ninh y tế quốc gia và hạn chế khả năng ứng phó dịch bệnh khẩn cấp của các bệnh viện công.

2.2. Vấn đề đăng ký sáng chế cải tiến và quá tải thẩm định

Thực trạng đăng ký sáng chế dạng cải tiến nhỏ, muối mới, hoặc dạng tinh thể mới đang tạo ra hiện tượng bảo hộ kéo dài nhân tạo. Doanh nghiệp nộp đơn ồ ạt nhằm chiếm lĩnh ưu tiên, dẫn đến khối lượng đơn tồn đọng lớn tại cơ quan sở hữu trí tuệ. Năng lực nhân sự chuyên môn về sinh hóa và dược lý của cơ quan thẩm định chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển công nghệ mới. Tình trạng thẩm định chậm trễ gây rủi ro pháp lý và cản trở kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp nội địa.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ sáng chế dược phẩm đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và linh hoạt. Hệ thống luật pháp cần nội luật hóa chuẩn xác các cam kết quốc tế trong EVFTA và CPTPP. Đồng thời, Việt Nam cần tận dụng tối đa các linh hoạt của Hiệp định TRIPS để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tiêu chuẩn cấp bằng sáng chế cho các dạng biến thể dược phẩm cần được siết chặt rõ ràng. Cơ quan quản lý phải xây dựng hướng dẫn thẩm định riêng biệt cho sáng chế sinh học và hóa dược. Việc này nhằm ngăn chặn triệt để hành vi đăng ký bằng sáng chế nhằm mục đích độc quyền kéo dài. Song song đó, quy định về cơ chế cấp phép cưỡng bức cần được cụ thể hóa về trình tự và thủ tục áp dụng. Cơ chế này cho phép sản xuất thuốc generic trong các tình huống y tế khẩn cấp mà không cần sự đồng ý của chủ bằng độc quyền. Nhà nước cũng cần đầu tư hiện đại hóa cơ sở dữ liệu tra cứu và nâng cao năng lực đội ngũ giám định viên sở hữu trí tuệ.

3.1. Hoàn thiện tiêu chí thẩm định và kiểm soát bảo hộ kéo dài

Cơ quan lập pháp cần quy định rõ ràng tiêu chí về hiệu quả điều trị vượt trội đối với các đơn vị sáng chế cải tiến. Việc bảo hộ dạng muối, este hoặc tinh thể mới chỉ được chấp thuận khi có dữ liệu lâm sàng chứng minh hiệu quả trị liệu tăng đáng kể. Tiêu chuẩn này loại bỏ các sáng chế thứ cấp mang tính đối phó thị trường. Đồng thời, cơ quan sở hữu trí tuệ cần số hóa toàn bộ quy trình tra cứu dữ liệu sáng chế quốc tế. Việc này giúp rút ngắn thời gian xử lý đơn và nâng cao tính chuẩn xác trong thẩm định nội dung.

3.2. Cơ chế cấp phép bắt buộc và liên thông y dược

Cần hoàn thiện quy trình cấp phép cưỡng bức chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dược phẩm theo điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ. Các căn cứ pháp lý trong tình huống dịch bệnh bùng phát hoặc giá thuốc cao bất hợp lý phải được hướng dẫn chi tiết. Ngoài ra, việc thiết lập cơ chế liên thông thông tin giữa Cục Sở hữu trí tuệ và Cục Quản lý Dược là cấp thiết. Sự phối hợp chặt chẽ giúp ngăn chặn hành vi xâm phạm sáng chế nhưng không cản trở việc cấp phép lưu hành thuốc generic.

IV. Kết luận và giá trị thực tiễn bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam

Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy khoa học y học và phát triển kinh tế tri thức. Nghiên cứu khóa luận khẳng định tính tất yếu của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu. Pháp luật bảo hộ sáng chế tạo nền tảng vững chắc để thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ sinh dược hiện đại. Tuy nhiên, mục tiêu bảo vệ quyền tài sản tư nhân phải luôn song hành với mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các khuyến nghị hoàn thiện thể chế trong nghiên cứu mang giá trị tham khảo thiết thực cho các cơ quan hoạch định chính sách. Mô hình pháp lý hài hòa sẽ vừa thúc đẩy doanh nghiệp dược trong nước đổi mới công nghệ, vừa bảo đảm nguồn cung ứng thuốc điều trị với giá cả hợp lý. Việc áp dụng đúng đắn các nguyên tắc pháp lý quốc tế giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế và xây dựng nền công nghiệp dược tự chủ, bền vững.

4.1. Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp dược phẩm nội địa

Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trong nước cần chủ động theo dõi thời hạn hiệu lực của các bằng độc quyền sáng chế quốc tế. Chiến lược này giúp doanh nghiệp chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ sản xuất thuốc generic ngay khi bằng bảo hộ hết hạn. Đồng thời, các đơn vị cần tăng cường đầu tư cho bộ phận nghiên cứu và phát triển. Doanh nghiệp nên tìm kiếm cơ hội hợp tác chuyển giao công nghệ, khai thác hợp pháp các sáng chế đã thuộc về phạm vi công cộng để tối ưu hóa chi phí sản xuất.

4.2. Định hướng áp dụng trong công tác đào tạo và nghiên cứu luật

Khóa luận đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho chương trình đào tạo chuyên ngành luật sở hữu trí tuệ tại các trường đại học. Đề tài mở ra góc nhìn đa chiều về mối quan hệ giữa độc quyền sáng chế và quyền tiếp cận y tế cộng đồng. Các kết quả nghiên cứu hỗ trợ sinh viên, giảng viên và chuyên gia pháp lý tiếp tục đào sâu phân tích các cam kết thương mại tự do thế hệ mới, từ đó phục vụ thiết thực cho tiến trình lập pháp tại Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học bảo hộ sáng chế dược phẩm ở việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số van dé lý luận cơ bản về bảo hộ sáng chế dược phẩm và pháp luật về bảo hộ sáng chế được phẩm. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ sáng chế được phẩm tại Việt Nam. Chương 3: Pháp luật quốc tế và kinh nghiệm bảo hộ sáng chế được phẩm của một số quốc gia và giải pháp cho Việt Nam. CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HỘ SÁNG CHE DƯỢC PHAM VA PHÁP LUAT VE BAO HỘ SANG CHE DƯỢC PHAM 1.

Lý luận về bao hộ sáng chế dược phẩm 1. Khái niệm sáng chế được phẩm 1. Khái niệm sáng chế Ra đời gắn với những thành tựu về sáng tạo của trí tuệ loài người, pháp luật về SHTT đang ngày càng được nhìn nhận là động lực quan trọng cho hoạt động đổi mới sáng tao, là chìa khóa thành công trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc thông qua việc khuyến khích các sáng tạo và ý tưởng, tìm ra cách giải quyết những thách thức toàn câu. Trong tất cả những đối tượng của quyền SHTT, sdng ché là đối tượng có kỹ thuật khó nhất và mang tính phô biến, có giá trị cao nhat?.

Vì lẽ đó mà pháp luật về SHTT của hầu hết các quốc gia đều có quy định về bảo hộ quyền SHTT đối với đối tượng này. Bên cạnh đó, bảo hộ sáng chế được coi là có lịch sử phát triển lâu đời nhất trong hệ thống bảo hộ quyền SHTT, Đạo luật sáng chế đầu tiên được ban hành tại Venice năm 1474, sau đó, luật sáng chế lần lượt được thừa nhận ở các quốc gia trên thế giới dé ghi nhan quyén sở hữu cho chủ thé sáng tạo đối với những sáng tạo về kỹ thuật của họ, nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo cũng như bộc lộ các thành quả sáng tạo, thúc đây việc cải tiễn, phát triển những công nghệ đã có. Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thé giới (WIPO): “Sáng chế la một độc quyên được cấp cho một giải pháp là sản phẩm hoặc quy trình nói chung, cung cấp cách thức mới dé thực hiện một điều gì đó, hoặc đưa ra một giải pháp công nghệ mới cho một vấn dé.” Cũng theo WIPO, “sáng chế có thể liên quan đến việc sáng tạo ra một thiết bị, sản phẩm, phương pháp hoặc quy trình hoàn toàn mới hoặc có thé don giản chỉ là sự cải tiễn bồ sung cho các sản phẩm hoặc quy trình đã được biết đến ”. Tóm lại, theo định nghĩa trên của WIPO, sáng chế là những giải pháp mang đặc tính kỹ ? Lê Thị Bích Thủy (2021), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến được phẩm tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc té, Hà Nội, tr.

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021) Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội thuật trong lĩnh vực kỹ thuật hay công nghệ bat kỳ, có tính mới đo con người sáng tao ra và được ứng dụng trong các hàng hóa, thiết bị, máy móc, quy trình đề phục vụ nhu cầu của cuộc sống. Có thể thấy, đối với định nghĩa này của WIPO, định nghĩa trên dựa trên những điều kiện để được coi là một sáng chế, phải có tính sáng tạo, tinh mới và có thê được áp dụng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan. Hiện nay, các DUQT đa phương liên quan đến lĩnh vực SHCN mà Việt Nam tham gia như Công ước Paris, Hiệp định TRIPs, Hiệp ước Hợp tác sáng chế (PCT) cũng như luật sáng chế của nhiều quốc gia không đưa ra định nghĩa cụ thê vé sáng chế, thay vào đó chỉ xác định các tiêu chí dé sang chế được bao hộ. Trong khi đó, Việt Nam là một trong số các quốc gia đưa ra khái niệm sáng chế tại khoản 12 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, sửa đôi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 (Sau đây gọi tắt là Luật SHTT): “Sdng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dang sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên ”.

Luật SHTT Việt Nam đã đưa ra khái niệm sáng chế theo cách tiếp cận từ ban chất kỹ thuật của sáng chế, theo đó, sáng chế được hiểu là một giải pháp mới dé giải quyết một van dé kĩ thuật (giải pháp kỹ thuật), và giải pháp kỹ thuật đó phải đáp ứng được ba tiêu chuẩn bao gồm: tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dung công nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế xã hội.* Có thê thấy pháp luật Việt Nam đã không chỉ đưa ra định nghĩa mà còn bao hàm trong đó cả các điều kiện để được bảo hộ là sáng chế. Tóm lại, có thể hiểu sáng chế là một giải pháp kỹ thuật, là ý tưởng của con người về việc thực hiện một giải pháp để giải quyết một vấn đề kỹ thuật trên cơ sở ứng dụng các quy luật tự nhiên. Khái niệm dược phẩm Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), được phẩm được hiểu như sau: Dược phẩm hay còn gọi là thuốc bao gém hai đối tượng cơ bản là thuốc Tân dược và thuốc Y học 4 Xem thêm tại khoản 1 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ. Thuốc phải dam bao được độ an toàn, hiệu quả và có chất lượng tốt được quy định thời hạn sử dung và sử dung theo liều lượng hợp Wy.

Bộ Tiêu chuẩn hành nghề, Liên đoàn các Nhà san xuất và hiệp hội dược phẩm quốc tế (The International Federation of Pharmaceutical Manufacturers & Associations - IFPMA) định nghĩa về sản phẩm được phẩm “Jd bát kỳ và tat cả các sản phẩm dùng cho người, trong bat kỳ phương pháp phân phối, dang bào chế hoặc công thức nào, có chứa một thành phan dược hoạt tinh, cho dit là một thành phan dược hoạt tính duy nhất hoặc kết hợp với bat kỳ thành phần hoặc thành phần được tính nào khác ”; “là tắt cả các sản phẩm dược phẩm hoặc sinh học (bat kế tình trạng bằng sáng chế hoặc không có nhãn hiệu) được sứ dung với sự chỉ định cua chuyên gia chăm sóc sức khỏe hoặc dưới sự giám sát của họ, mục dich sử dung là chấn đoán, điều trị hoặc ngăn ngừa bệnh tật ở người, hoặc ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc bắt kỳ chức năng nào của cơ thể con người ”Š. Tại Việt Nam, dù không có quy định cụ thé về khái niệm “được phẩm ” Tuy nhiên, Luật Dược lại đưa ra một số khái niệm liên quan, bao gồm: Khoản 2 Điều 2 Luật Dược 2016 quy định: “Thudc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc được liệu dung cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chan đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh ly cơ thể người bao gém thuốc hóa dược, thuốc duoc liệu, thuốc cô truyền, vac xin và sinh phẩm ”. Hay “được là thuốc và nguyên liệu làm thuốc”; “dược chất (còn gọi là hoạt chất) là , chất hoặc hỗn hợp các chất dùng để sản xuất thuốc, có tác dung được ly hoặc có tác dụng trực tiếp trong phòng bệnh, chan đoán bệnh, chữa bệnh, diéu trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh ly cơ thể người”. Từ những khái niệm trên có thé hiểu một cách chung nhất: dược phẩm (sau đây còn gọi là thuốc) là các sản phẩm được sử dung trong lĩnh vực y học với mục dich > Dang Thị Van Anh (2013), Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam - Một số van dé lý luận và thực tiễn, Hà Nội, tr.

®1a Thị Bích Thủy (2021), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm tại Việt Nam trong điêu kiện hội nhập kinh tế quôc tế, Hà Nội, tr. 7 Xem thêm tại khoản 1 Điều 2 Luật Dược 2016. 8 Xem thêm tại khoản 4 Điều 2 Luật Dược 2016. 10 phòng bệnh, điều trị bệnh hoặc điều chỉnh các chức năng sinh lý của cơ thể con người với những công dụng, liều lượng và thành phần rõ ràng.

Dược phẩm bao gồm thuốc tân được, thuốc y học cổ truyền và các chế phẩm sinh học, tất cả đều chứa các thành phần được hoạt tính có tác dụng sinh học cụ thé. Các sản phẩm dược phẩm phải đám bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, hiệu quả và chất lượng, được sử dụng theo chỉ định của chuyên gia y tế và tuân thủ các quy định về liều lượng cũng như thời gian sử dụng. Như vậy, một sản phẩm để được coi là được phẩm phải đáp ứng hai tiêu chí cơ ban gồm: thành phần phải chứa dược chất hoặc được liệu có hoạt tính sinh học; phải hướng tới mục đích sử dụng là để điều trị, phòng ngừa hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể. Do đó, néu một sản phẩm thuộc lĩnh vực y học nhưng không nhằm mục đích trên thì không thể xem là được phẩm.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực y tế, ngoài được pham còn có nhiều sản phẩm khác như thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, dược liệu. Những san phẩm này đều góp phần hỗ trợ sức khỏe, làm đẹp tuy nhiên không có tác đụng điều trị bệnh và không thê thay thé được được phẩm. Do đó, cần phân biệt rd ràng giữa các khái niệm này để tránh nhằm lẫn trong sử đụng và quản lý. Thứ nhất, thực phẩm chức năng và thực phẩm bao vệ sức khỏe.

Theo quy định tại khoản 23 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010 định nghĩa “7c phẩm chức năng là thực phẩm dùng dé hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức dé kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gôm thực phẩm bồ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học”. Trong khi đó, được pham có mục đích điều trị hoặc phòng bệnh, chứa hoạt chất có khá năng tác động trực tiếp lên quá trình sinh hóa trong cơ thể, từ đó làm thay đối tình trạng bệnh lý hoặc điều chính chức năng sinh lý. Một trong những điểm khác biệt quan trọng là dược phẩm luôn phải trải qua quá trình thử nghiệm lâm sàng nghiêm ngặt để chứng minh tính hiệu quả và tính an toàn trước khi được cấp phép lưu hành, trong khi thực phẩm chức năng chi cần công bế tiêu chuẩn chất lượng mà không cần bắt buộc thử nghiệm lâm sàng. Như vậy, dù có thể hỗ trợ sức khỏe nhưng thực phẩm chức năng không có tác dung điều trị bệnh và không thê thay thế được phẩm.

Ví đụ như viên uống bổ sung collagen II chi giúp bổ sung đưỡng chất collagen giúp duy trì độ đàn hỏi, độ căng và độ déo dai cho làn da nhưng không thé thay thé thuốc trị bệnh da liễu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ