CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM ĐƯỢC TẠO RA BỞI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ĐƯỢC TẠO RA BỞI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO 1. Những vấn đề lý luận về sản phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo 1. Khái niệm trí tuệ nhân tạo Trong thời đại Cách mạng Công nghệ 4.0 phát triển như hiện nay, trí tuệ nhân tạo (AI) dần len lỏi vào trong mọi ngóc ngách của cuộc sống, từ các ứng dụng ngân hàng cho phép chúng ta gửi séc bằng hình ảnh đến các trợ lý ảo ví dụ như Siri, Bixby trên thiết bị di động của Apple hay là Samsung… Khắp nơi, truyền thông rầm rộ đưa tin về những tác động, ảnh hưởng to lớn mà AI đem lại cho kinh tế, xã hội. Tuy nhiên trên thực tế vẫn luôn tồn tại hai quan điểm đối lập khi đánh giá về tác động của AI.
Phe ủng hộ cho rằng AI sẽ đem lại những bước đi thần tốc đối với sự phát triển của thế giới, trong lúc đó bên còn lại với đại diện là những “ông trùm” của làng công nghệ điển hình như Elon Musk… lại đang lo ngại AI sẽ là mối đe doạ kinh hoàng mà nhân loại phải đối mặt trong thế kỉ này. Mỗi ngày đi qua, AI vẫn tiếp tục phát triển một cách vượt bậc, là lĩnh vực được các cường quốc đầu tư mạnh và cũng là chủ đề thu hút các giới nghiên cứu khắp nơi trên thế giới. Từ nhiều góc nhìn khác nhau, người ta hi vọng vào tiềm năng sức mạnh to lớn của AI nhưng cũng không ngừng lo ngại những vấn đề tiêu cực mà AI mang đến. Câu hỏi đặt ra là, liệu rằng khung pháp lý và các quy định pháp luật hiện hành đã đủ và kịp thời để điều chỉnh sự phát triển của trí tuệ nhân tạo hay chưa? Dù là phe ủng hộ hay phản đối cũng đều có chung mong muốn các đạo luật liên quan đến AI sẽ sớm được xây dựng nhằm có các biện pháp bảo vệ con người.
Tuy nhiên, nói đến trí tuệ nhân tạo, thường có ba lý do khiến mọi người đặt câu hỏi: Thứ nhất, chúng ta hay liên tưởng AI qua các bộ phim, ví dụ như Chiến tranh giữa các vì sao, Kẻ hủy diệt, Bản Odyssey Vũ trụ,… Bởi lẽ rằng tất cả đều là tưởng 6 tượng, kể cả cảnh nhân vật robot nên chúng ta cảm thấy AI chỉ là viễn tưởng, không có thật. Thứ hai, AI là một chủ đề rất rộng, bao gồm máy tính trong điện thoại, xe tự lái hay những điều gì đó trong tương lai có thể làm thay đổi thế giới một cách khủng khiếp. AI bao trùm tất cả những thứ đó, vậy nên khá dễ để gây nên nhầm lẫn. Thứ ba, chúng ta thường xuyên sử dụng AI trong cuộc sống thường ngày nhưng không biết đó chính là trí tuệ nhân tạo.
John McCarthy, cha đẻ của thuật ngữ “Trí tuệ nhân tạo” (AI) vào năm 1956 đã nói rằng “đến lúc nó hoạt động được thì chẳng ai gọi nó là AI nữa”. Vậy, trí tuệ nhân tạo là gì? Khái niệm về trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - viết tắt là AI) có thể được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau, chưa có định nghĩa nào được thừa nhận chung trên toàn thế giới. Một số định nghĩa cơ bản về trí tuệ nhân tạo, cụ thể: Theo định nghĩa của Viện Hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, trí tuệ nhân tạo (AI) là một ngành khoa học máy tính tập trung vào việc tạo ra các hệ thống có thể suy nghĩ và hành động như con người thật. Các hệ thống AI được thiết kế để thực hiện các nhiệm vụ như học hỏi, thao tác giải quyết vấn đề và ra quyết định.
Bellman (1978) định nghĩa: Trí tuệ nhân tạo là tự động hoá các hoạt động phù hợp với suy nghĩ con người, chẳng hạn các hoạt động giải bài toán, đưa ra quyết định. Rich anh Knight (1991) thì lại cho rằng: Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm cách nào để máy tính có thể thực hiện những công việc mà hiện giờ con người còn làm tốt hơn cả máy tính. Winston (1992) cho rằng: Trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nghiên cứu các tính toán để máy có thể nhận thức, lập luận và tác động ra bên ngoài. Nilsson (1998) Trí tuệ nhân tạo nghiên cứu các hành vi thông minh được mô phỏng trong các vật thể nhân tạo.
Mỗi khái niệm, định nghĩa đều có điểm đúng riêng nhất định, nhưng có thể hiểu đơn giản trí tuệ nhân tạo là một ngành khoa học máy tính. AI được xây dựng trên một nền tảng lý thuyết vững chắc và nó có thể ứng dụng trong việc tự động hóa các hành vi thông minh của máy tính; giúp máy tính có được những trí tuệ của con người ví dụ như: 7 biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói, biết học hỏi và tự thích nghi. Nói tóm lại, trí tuệ nhân tạo là sự "tư duy" của máy móc, trong đó các thiết bị sẽ bắt chước cách tư duy hiện đại của con người để giải quyết các vấn đề đặt ra. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, AI là một trong những yếu tố chủ chốt quan trọng.
Từ khái niệm tưởng chừng như trừu tượng, AI đang từng bước đi vào đời sống, hiện thực hóa giấc mơ về những loại máy móc có khả năng tư duy như con người. Quá trình hình thành và phát triển của trí tuệ nhân tạo Nguồn gốc của trí tuệ nhân tạo Vào năm 1949, Donald Olding Hebb đã xuất bản cuốn sách "The Organization of Behavior", nội dung trong đó mô tả các quy tắc học tập và đề xuất khái niệm về trọng số (Metrics). Lý thuyết này đã đặt nền tảng cho thuật toán học của mạng nơ-ron nhân tạo trong học máy. Mạng nơ-ron nhân tạo là tiền thân của học sâu, hiện đang rất phổ biến ở hiện nay.
Năm 1950, Alan Turing cũng đã xuất bản một bài báo rất nổi tiếng có tựa đề "Máy móc có thể suy nghĩ không?", trong bài báo đó ông đưa ra định nghĩa về tư duy của máy móc và đề xuất ra phép thử Turing (một phương pháp xác định máy tính có suy nghĩ và thực sự thông minh hay không. Phép thử như sau: một người chơi thực hiện một cuộc thảo luận bằng ngôn ngữ tự nhiên với một con người và một máy tính, cả hai đều cố gắng chứng tỏ mình là con người. Ba bên tham gia phép thử được cách ly độc lập với nhau). Vì thế, Turing được mệnh danh là "cha đẻ của trí tuệ nhân tạo".
Sau này, để tưởng nhớ những đóng góp quan trọng của Turing, Hiệp hội Máy tính Hoa Kỳ đã thành lập Giải thưởng Turing để ghi nhận những người đã có những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực khoa học máy tính. Năm 1952, Arthur Samuel đã phát triển một chương trình chơi cờ có khả năng tự học và nó có thể đánh bại những tay chơi cờ chuyên nghiệp sau khi được đào tạo. Samuel cũng đã đề xuất khái niệm "học máy", được định nghĩa là "cung cấp cho máy tính một chức năng nhất định mà không được lập trình rõ ràng". Đến năm 1956, tại Hội nghị do Marvin Minsky và John McCarthy tổ chức với sự tham dự của vài chục nhà khoa học tại trường Dartmouth (Mỹ), tên gọi “Artificial Intelligence” được chính thức công nhận và sử dụng cho đến ngày nay.
Cũng tại đây, bộ 8 môn nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đầu tiên đã được thành lập. Một số nhà khoa học như John McCarthy, Marvin Minsky, Allen Newell và Herbert Simon cùng với những sinh viên đã viết những lập trình gây kinh ngạc cho hầu hết mọi người: máy vi tính giải được những bài toán đố của đại số , chứng minh các định lý, và nói được tiếng Anh. Các công trình nghiên cứu của họ đã được Bộ Quốc Phòng Mỹ tài trợ và trong họ đầy lạc quan về tương lai của bộ môn mới này. Một số thành tựu ban đầu của giai đoạn này có thể kể đến như: Chương trình chơi cờ của Samuel; Chương trình lý luận Logic của Newell & Simon; Chương trình chứng minh các định lý hình học của Gelernter.
Sự thăng trầm của phát triển trí tuệ nhân tạo Năm 1957, Rosenblatt đã phát minh ra perceptron, mô hình nơ-ron sớm nhất trong lý thuyết về mạng nơ-ron nhân tạo trong khái niệm máy học. Ngay sau đó sự xuất hiện của hàng loạt các nghiên cứu về lý thuyết học sâu, tế bào cảm thụ còn được so sánh với mô hình nơ-ron để có thể hiểu sâu hơn về các đơn vị cơ bản của mạng nơ-ron. Cùng với sự phát triển đột phá của lý thuyết về mạng nơ-ron nhân tạo, lĩnh vực trí tuệ nhân tạo đã được chú tâm nhiều hơn, các doanh nghiệp,cơ quan, chính phủ đã đầu tư nhiều kinh phí để thành lập các dự án liên quan đến AI. Năm 1960, Vidro chính là người đầu tiên sử dụng quy tắc học delta cho các bước huấn luyện perceptron.
Phương pháp nghiên cứu này sau đó được coi là phương pháp bình phương nhỏ nhất. Năm 1969, Marvin Minsky đã xuất bản cuốn sách "Perceptrons", nội dung trong đó ông có đề cập những hạn chế của mạng nơ-ron nhân tạo. Do tầm quan trọng của Minsky trong lĩnh vực AI, và do những khó khăn trong lĩnh vực nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, các nhà nghiên cứu của các dự án AI đã không thể thực hiện lời hứa trước đó của họ. Sự kỳ vọng của mọi người về AI đã bị ảnh hưởng nặng nề, và nhiều các dự án nghiên cứu cũng đã bị dừng lại hoặc thay đổi sang các dự án khác.
Theo đó, các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo đã phải rơi vào tình trạng tụt dốc. Sự gia tăng của các hệ thống chuyên gia 9 Từ giữa những năm 1970, trí tuệ nhân tạo đã bước vào một "thời kỳ tri thức". Một lớp các chương trình AI với tên gọi là "hệ chuyên gia" (Expert system) bước đầu được các công ty trên thế giới áp dụng và "xử lý kiến thức" (Knowledge processing) trở thành trọng tâm của nghiên cứu trí tuệ nhân tạo chính thống. Trong khoảng thời gian này, nhiều quốc gia tiên phong đã chi mạnh vào đầu tư các dự án tương tự với hy vọng chế tạo ra những cỗ máy có thể nói chuyện được với con người, dịch được ngôn ngữ, giải thích hình ảnh và suy luận giống như con người.
Hệ thống chuyên gia là một chương trình có thể giải quyết các vấn đề trong một lĩnh vực cụ thể nào đó theo một tập hợp các quy tắc được rút ra từ kiến thức chuyên ngành.