MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực công nghệ mang tính đột phá của nhân loại, được đánh giá là ngành khoa học có tác động sâu sắc đến đời sống xã hội. Như chúng ta đã thấy, trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển, công nghệ của trí tuệ nhân tạo đã dần thâm nhập vào mọi lĩnh vực trong đời sống và có tác động nhất định đối với con người. Với sự bùng nỗ của cuộc cách mạng công nghiệp, thuật ngữ như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning) và học sâu (deep learning) dần phổ biến và trở thành những khái niệm mà các công dân của kỷ nguyên 4.0 phải nắm được.
Cùng với đó, những sản phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo cũng là điều đáng quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ. Điều này thôi thúc các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đưa ra những nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này. Trên thực tế, ở nhiều quốc gia đã có nhiều nhà lập pháp, chuyên gia, tô chức cùng tham gia và đóng góp nhiều bài nghiên cứu có giá trị. Điển hình như bài “Tri tué nhân tạo và bản quyên” viết bởi Andres Guadamuz, Giảng viên cao cấp về Luật Sở hữu trí tuệ, Đại học Sussex, Anh, được đăng trên Cổng thông tin điện tử của WIPO năm 2017; bài nghiên cứu “What is artificial intelligence and why does it matter for Copyright?” do Anastasiya Kiseleva - nghiên cứu sinh tại trường Dai hoc Hanover của Đức viết, xếp thứ ba tại Giải thưởng nghiên cứu do Hội đồng Khoa học quốc tế tổ chức năm 2018.
Bên cạnh đó, có thé kế đến cuốn sách Artificial Intelligence: A Modern Approach (Tri tuệ nhân tạo: Một hướng tiếp cận hiện đại) của Peter Norvig và Stuart J. Luận văn của Tuomas Sorjamaa với tiêu đề “Author - Authorship and Copyright in the Age of Artificial Intelligence. Hay bai “AI & Intellectual Property: Towards an Articulated Public Domain” của Mauritz Kop - thành viên của diễn đàn Luật Công nghệ trường Luật Stanford, người sáng lập Musical Juridica và luật sư tại Airecht tại Amsterdam, Hà Lan. Một số nghiên cứu cụ thé hơn như “How IP struggles to define Al-generated products and the ownership dilemma”, bài viết “The sentimental fools and the fictitious authors: rethinking the copyright issues ofAl-generated contents in China” - Tianxiang He,.Tai Việt Nam, hiện nay van chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các van dé pháp lý liên quan đến trí tuệ nhân tạo nói chung và sản phẩm tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo nói riêng.
Tuy vậy, qua tìm hiêu của nhóm, nôi bật có thê kê đên như bài việt của tác giả Nguyên 2 Lương Sỹ “Quyên tác giả đổi với tác phẩm hình thành bởi trí tuệ nhân tạo” được đăng tải trên Tạp chí pháp luật và thực tiễn số 1/2018. Gần đây, trong hội thảo chuyên đề diễn đàn luật học liên quan đến tác động của trí tuệ nhân tạo, có bài viết “Quy trình xác lập quyên tac gia cho trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực hội hoa tại Việt Nam” được viết bởi TS. Bùi Thị Hằng Nga, Tran Thanh Ngân - Dai học Kinh tế - Luật ĐHQG TPHCM); “Bao hộ quyên tác giả đổi với tác phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tao” của tác giả Vũ Thị Hải Yến trên báo Nhà nước và Pháp luật số 3/2020;. Qua rà soát cho thấy rằng, các tài liệu nghiên cứu, đánh giá chưa đưa ra quan điểm thống nhất trong vấn đề này.
Đồng thời, các tài liệu nêu trên cũng là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng em hoàn thành bài nghiên cứu của mình. Lý do lựa chọn đề tài Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với những tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid 19, diện mạo của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên thế giới đang có những thay đổi lớn. Và lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng không ngoại lệ. Nó được chú trọng phát triển nhiều hơn bao giờ hết, trở thành mảnh đất màu mỡ, nuôi dưỡng sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại.
Nhưng đồng thời, các nhà lập pháp cũng phải đối mặt với một câu hỏi lớn đến từ “thành quả” của công nghệ mới — trí tuệ nhân tạo (AI) va cụ thé là những sản phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo. Trong một cuộc khảo sát thường xuyên, AI đã được xếp hàng là một trong những lĩnh vực thú vị nhất và phát triển nhanh nhất, nó đã tạo ra hơn một ngàn tỷ đô la doanh thu mỗi năm và những tác động của nó được dự đoán là “sẽ nhiều hơn bắt cứ điều gì trong lịch sử nhân loại”, theo Kaifu Lee — Chuyên gia về AI'. Tuy nhiên, liệu các sản phẩm do AI tạo ra có được bảo hộ như một tai sản trí tuệ? Chủ thé nào sẽ được trao quyền sở hữu những sản phẩm này? Hay việc thương mại hóa các sản pham nay sẽ được tiến hành như thế nào?. Vô vàn những vấn đề pháp lý đang được đặt ra và cần một lời giải đáp xác đáng.
Trên thế giới, các quốc gia đã có những phản ứng dau tiên với van dé nay. Như tại Úc, vào tháng 08 năm 2021 vừa qua, Tòa án Liên bang Úc đã đưa ra một tuyên bố lịch sử rằng “nhà phát minh có thê không phải là con người”. Hay trước đó vài ngày, Nam Phi đã trao bằng sáng chế công nhận DABUS là một nhà phát minh. Mặt khác, Phòng sáng chê châu Au đã từ choi công nhận AI là người sáng chê.
Tuy ta chưa có một câu 1S Russell & PNorvig, Artificial Intelligence - A Modern Approach (Pearson 2020) Chapter 1 3 trả lời thống nhất hay lời khang định tuyệt đối, nhưng việc bắt tay vào trao đồi, thảo luận là cần thiết. Ở Việt Nam, vấn đề về trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là các sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra dường như chỉ mới manh nha, chưa nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà làm luật. Trong Dự thảo Luật sửa đôi, bô sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vừa qua, vấn đề này vẫn chưa được đề cập điều chỉnh. Mặc dù trong thực tế, công nghệ đang tiên đên rât gân với đời sông con người.
Với mong muốn góp một tiếng nói trong cuộc thảo luận lớn về van đề sản phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo, đồng thời nhìn nhận pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong mỗi tương quan với luật pháp thế giới, nhóm tác giả chon đề tài: “San phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo (AI) — Tiếp cận từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0” làm đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm. Mục tiêu đề tài Trong bài nghiên cứu khoa học, nhóm tác giả sẽ nghiên cứu, phân tích đánh giá va đưa ra các kiến nghị về trí tuệ nhân tạo đối với pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, các mục tiêu cụ thê như sau: ¢ Khai quát chung về tài sản trí tuệ, các học thuyết sở hữu trí tuệ liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, giup người đọc nhận diện được các van dé chung liên quan đến trí tuệ nhân tạo và sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra. ‹ Trinh bày những van đề được đặt ra trong quá trình khai thác sản phẩm tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo về mặt pháp lý và thực tiễn trên thế giới và Việt Nam.
¢ _ Nêu lên một số quan điểm trên thế giới liên quan đến việc bảo hộ sản phẩm của trí tuệ nhân tạo. «e Đề ra một số kiến nghị hoàn thiện hệ thong pháp luật so hữu trí tuệ Việt Nam liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu sản phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ.
Trong đó tập trung vào hai van đề lớn là van đề về khả năng bảo hộ va van đề xác định chủ sở hữu. Đồng thời, nhóm tác giả cũng tổng hợp một số quan điểm của các quốc gia trên thé giới về van dé này, từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề dưới ba góc độ: lý thuyết, quy định pháp luật và thực tiễn. Về thời gian, đề tài đề cập đến sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo từ những năm 1950.
Tuy nhiên, nhóm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các sản phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh pháp luật sở hữu trí tuệ hiện nay. Về không gian, đề tài nghiên cứu trong phạm vi pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, EU, .) và pháp luật Việt Nam. Cách tiếp cận Đề tài “Sản phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo (AI) — Tiếp cận từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0” sẽ được tiếp cận theo cách của một số nhà nghiên cứu sử dụng: tiếp cận từ các lý thuyết liên quan đến pháp luật sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra; tiếp đó là các van dé phát sinh từ pháp luật đến thực tiễn trong quá trình khai thác sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, sau đó soi chiếu quan điểm từ pháp luật quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia. Trên cơ sở đó, dé tài đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp tam thời, giải pháp tương lai cho hệ thống luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Phuong pháp nghiên cứu Đề đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở những phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng, cụ thé là: phương pháp phân tích, phương pháp tong hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp nghiên cứu từ thực tiễn qua các báo cáo. 5 NOI DUNG CHUONG I: KHAI QUAT VE TRI TUE NHAN TAO VA PHAP LUAT SO HỮU TRÍ TUE VE SAN PHAM DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TẠO RA 1. Khái quát về pháp luật sở hữu trí tuệ 1. Những học thuyết sở hữu trí tuệ Dé giải thích cho việc bao hộ quyền sở hữu trí tuệ, có rất nhiều học thuyết được phân tích, như: Thuyết vị lợi (Utilitarianism), Thuyết khuyến khích (Incentive theory), Thuyết phần thưởng (Reward theory), Thuyết kinh tế (Economic theory), Thuyết lao động (Labour theory), Thuyết nhân cách (Personhood Theory), Thuyết sinh thái (Ecological Theories), .